☾ Truyện Ma Có Thật
← Chiếc áo cưới thiếu cúc

Chương 7: Tấm ảnh bị cạo mặt

Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem

Hai ngày sau, Mai chở tôi về Văn Lâm. Mai không cho tôi đi một mình. Chiếc áo, cổ đã bị cắt toạc, tôi gấp lại bọc trong tờ báo cũ, để trong ba lô sau lưng. Suốt đường Năm, tôi cảm thấy nó nằm đó, nặng hơn một cái áo the nhiều lắm.

Thôn Trà Đông cách Như Quỳnh chừng bốn cây số, đi vào một con đường bê tông chạy giữa những ruộng lúa vừa gặt, rơm phơi vàng hai bên. Đầu thôn có một cái ao lớn, một cây đa và một ngôi chùa nhỏ, cổng tam quan quét vôi vàng. Tôi nhìn ngôi chùa lâu hơn cần thiết.

Hỏi thăm nhà cụ Lương mới mất, người ta chỉ cho chúng tôi một mảnh đất trống, cỏ mọc lút gối, chỉ còn cái nền nhà và cái bể nước xây. Một bà hàng xóm bảo con gái út của cụ, cô Lụa, lấy chồng ở xóm dưới, bán tạp hoá.

* * *

Cô Lụa ngoài bốn mươi, người đậm, nói to, tay thoăn thoắt nhặt hành. Nghe tôi nói chiếc áo cưới của chị cô đang ở chỗ tôi, cô buông nắm hành xuống, nhìn tôi trân trân.

Tôi mở ba lô, gỡ tờ báo. Cô Lụa đưa tay sờ vào đôi phượng thêu kim tuyến, rồi rụt lại như chạm phải than.

"Mẹ tôi cất nó... gần ba chục năm. Khoá hòm, chìa đeo cổ. Mẹ mất, mở hòm ra chả ai dám động. Tôi bảo đốt. Ông nhà tôi bảo thôi, áo cưới người chết, đốt không nên, để người ta mua. Ai ngờ đâu."

Tôi hỏi cô về đêm ấy. Năm ấy cô Lụa mười lăm tuổi. Cô kể giống bà Hồng kể, nhưng thêm những thứ chỉ người nhà mới biết. Chị Ngần đi lấy chồng mà khóc từ đêm trước, khóc đến sưng mắt, phải đắp khăn lạnh. Sáng đón dâu, chị bám lấy cột nhà không chịu đi, bố cô phải gỡ từng ngón tay. Anh Hưng thì hai năm sau mới về, đứng ở mộ chị cả buổi chiều rồi đi, từ đấy không về làng nữa.

Rồi cô vào nhà trong, lục trong cái tủ chè, lấy ra một tấm ảnh đen trắng cỡ bàn tay.

Ảnh cưới. Chụp ở sân nhà gái, phía sau là cái cổng dán chữ song hỷ. Cô dâu mặc áo dài sẫm màu, đầu đội khăn voan, mặt cúi xuống, không cười. Chú rể đứng bên cạnh, áo sơ mi trắng cài kín cổ, quần âu, tay trái đeo đồng hồ.

Mặt chú rể đã bị cạo mất. Cạo bằng đầu kim hay mũi dao, cạo kỹ đến trắng cả lớp giấy, chỉ còn một vệt xơ xác ở chỗ đáng lẽ là khuôn mặt.

"Mẹ tôi cạo đấy. Cạo xong mới cho vào tủ. Bà bảo không muốn nhìn mặt nó mà cũng không nỡ xé ảnh chị tôi."

* * *

Tôi hỏi người ấy làm nghề gì.

"Đồng hồ. Có cái tủ kính ngoài chợ Như Quỳnh. Khéo tay lắm, đồng hồ chết đến tay nó là chạy."

Mai liếc sang tôi. Tôi nhìn xuống tấm ảnh. Tay tôi đặt trên đầu gối, không run.

Tôi hỏi tên. Cô Lụa bảo người làng gọi nó là Thìn, vì nó tuổi Thìn, gọi mãi thành quen, cái tên thật trong giấy tờ chẳng ai nhớ. Anh Thìn đồng hồ. Con trai ông hiệu trưởng trường cấp hai xã bên.

Bố tôi sinh năm 1964. Giáp Thìn. Trên chứng minh thư của bố ghi thế, tôi đã nhìn thấy nó hàng trăm lần khi đi làm giấy tờ hộ bố.

Tôi tự bảo mình, cả nước có bao nhiêu người tuổi Thìn sửa đồng hồ. Tôi tự bảo mình, bố tôi tên Khải, Phạm Đức Khải. Tôi tự bảo như thế, và tôi nghe giọng mình trong đầu, mỏng như sợi chỉ bị giật đứt.

Cô Lụa kể thêm một chuyện, như chuyện vặt.

"À mà lạ. Giỗ chị tôi, mười tám tháng Chạp, năm nào sáng ra trên mộ cũng có bó huệ trắng. Đặt từ lúc trời chưa sáng. Chưa năm nào thiếu. Mẹ tôi biết ai, mà không nói. Cứ nhặt lên, ném xuống ao."

* * *

Năm nào cũng thế. Cuối năm, giáp Tết, bố tôi đóng cửa hàng một ngày. Bố bảo đi giao đồng hồ cho một ông khách quen dưới tỉnh. Bố đi từ lúc trời còn tối đen, bằng xe đạp, sau này đổi sang xe máy, tối mịt mới về. Người bố có mùi hương, mùi bùn, có năm có cả mùi rượu. Hôm ấy cũng là sinh nhật tôi. Bố mang về một cái bánh ga tô nhỏ, cắm một cây nến, ngồi nhìn tôi thổi, không nói gì.

Tôi chưa bao giờ hỏi ông khách ấy là ai. Tôi chưa bao giờ hỏi vì sao sinh nhật tôi luôn rơi đúng vào cái ngày bố đi vắng ấy.

Mộ cô Ngần ở nghĩa trang sau chùa đầu thôn. Cô Lụa dẫn chúng tôi ra. Ngôi mộ nhỏ, xây gạch, ốp đá rửa, bia ghi Lương Thị Ngần, mất ngày 18 tháng Chạp năm Canh Ngọ, hưởng dương hai mươi mốt tuổi. Tôi thắp ba nén hương, cắm vào bát nhang, đứng nhìn tên cô. Khói hương đứng thẳng, không lay.

Trên đường ra, chúng tôi đi ngang cổng tam quan của chùa. Lúc vào thôn tôi chỉ nhìn từ xa. Giờ tôi đi sát bên, và tôi dừng lại.

Bên phải cổng có một cây đại già, thân xù xì, gốc có một hốc lõm sâu như cái miệng. Trên cổng là ba chữ Hán đắp nổi, sơn đỏ đã tróc. Bậc tam cấp mòn vẹt, bậc thứ hai sứt một miếng hình tam giác.

Ở nhà tôi, trong cuốn album bìa nhựa xanh, trang đầu tiên, có một tấm ảnh duy nhất của tôi hồi bé. Một đứa bé quấn tã đỏ, nằm trong vòng tay một người đàn ông trẻ không thấy mặt, vì ảnh chỉ chụp từ vai trở xuống. Phía sau là một cây đại có hốc lõm như cái miệng, và một bậc tam cấp sứt một miếng hình tam giác.

Cổ tay trái của người đàn ông trong ảnh đeo một chiếc đồng hồ mặt tròn, dây kim loại.