Chương 1: Tiệm gạo đóng cửa
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Năm 2019 tôi làm môi giới cho một văn phòng nhà đất nhỏ trên đường 30 Tháng 4, Cần Thơ. Văn phòng có bốn người và một cái máy lạnh kêu như máy cày. Tôi là người mới nhất, hai mươi bảy tuổi, chưa bán được căn nào ra hồn. Mấy căn ngon anh Quân giữ. Tôi được giao những căn không ai muốn đi.
Sáng thứ Hai đầu tháng Sáu, anh Quân kêu tôi vô phòng, đưa một chùm chìa khoá buộc bằng sợi dây thun đỏ.
"Nhà phố cũ, sau chợ Cái Khế, dọc con rạch. Tiệm gạo đóng cửa hai năm rồi. Chủ ở Sài Gòn, gửi bán. Em trông nhà, dẫn khách coi. Hoa hồng hai phần trăm, có ứng trước."
Tôi hỏi sao căn ngon vậy anh không giữ. Anh Quân gãi đầu, nói chủ nhà có điều kiện hơi khó, ảnh không rảnh mà chiều. Rồi anh nói thêm, giọng như không có gì:
"Chủ nhà hỏi đích danh em đó. Chắc thấy tên em trên trang rao."
* * *
Chiều đó tôi gặp chủ nhà ở quán cà phê đầu đường. Anh tên Thạnh, ngoài năm mươi, áo sơ mi trắng bỏ trong quần, tóc chải sát, nói giọng Sài Gòn mà cuối câu vẫn còn chữ "hông" của người miền Tây. Anh gọi ly trà đá, không uống.
Anh đẩy qua cho tôi một tờ giấy đánh máy, ba dòng, có chỗ ký tên. Giấy cam kết. Tôi đọc.
Một, bên nhận trông nhà không tìm hiểu, không hỏi về lịch sử căn nhà và người ở cũ.
Hai, không dời chiếc cân bàn trong tiệm khỏi vị trí hiện tại.
Ba, không cho bất kỳ ai đục, đào, lát lại nền tầng trệt trước khi sang tên.
Tôi cười, hỏi anh sợ người ta đào được vàng hả. Anh Thạnh không cười. Anh nhìn tôi lâu, nhìn kỹ như người ta coi một tấm ảnh cũ để đoán năm chụp.
"Em tên đầy đủ là gì?"
"Dạ, Lê Minh Tấn."
"Quê đâu?"
"Dạ, Phong Điền. Giờ nhà em thuê bên Bình Thủy."
"Ba em còn không?"
Câu đó hơi lạ với người mới gặp. Tôi nói thật, ba tôi bỏ đi hồi tôi bốn tuổi, má tôi nuôi một mình. Anh Thạnh gật, chậm, rồi lấy cây bút trong túi áo ra, mở nắp, để lên tờ giấy. Tôi ký. Lúc đó tôi nghĩ người giàu ai cũng có chút tật, mà hai phần trăm của một căn mặt tiền gần chợ thì đủ trả tiền nhà một năm.
Anh Thạnh xếp tờ giấy bỏ vô túi, đứng dậy trả tiền. Đi được hai bước anh quay lại.
"Sáng nào em mở cửa thì coi cái cân giùm anh."
Tôi hỏi coi cái gì. Anh không trả lời, ra xe đi mất.
* * *
Căn nhà nằm trên con đường nhỏ chạy dọc rạch Cái Khế, phía sau chợ, chỗ ghe hàng hồi xưa cặp bến bốc gạo lên. Ngang năm thước, sâu gần hai mươi, một trệt một lầu, có gác lửng. Mặt tiền là cửa sắt kéo màu xanh đã tróc sơn, trên đầu còn tấm bảng tôn chữ đỏ: Tiệm gạo Hiệp Thành. Chữ "Thành" bị mưa ăn mất nét ngang.
Tôi kéo cửa. Cửa rít một hồi dài, bụi sắt rơi lả tả lên tóc.
Bên trong tối và mát, có cái mùi tôi nhớ từ hồi nhỏ mà không gọi được tên, sau mới biết là mùi cám với mùi bao bố để lâu. Dọc hai bên tường là kệ gỗ, mấy cái thùng tôn đựng gạo lẻ có nắp, mỗi thùng còn dán miếng giấy ghi tên gạo bằng bút lông: Nàng Thơm, Tài Nguyên, Nàng Hương, nếp sáp. Thùng nào cũng trống. Góc trong có một chồng bao bố xếp gọn, sạch sẽ lạ lùng so với bụi trên kệ.
Giữa tiệm, cách cửa chừng ba bước, là chiếc cân bàn.
Cân sắt sơn xanh lá đã ngả màu rêu, mặt bàn vuông cỡ nửa thước, mặt đồng hồ tròn lớn như cái dĩa, kim đỏ, vạch tới hai trăm ký. Dưới mặt kính có dòng chữ Nhơn Hòa đã mờ. Bốn chân cân đặt lên nền gạch bông, gạch hoa văn xanh trắng kiểu nhà phố cũ, chỉ có đúng chỗ dưới cái cân là bốn viên gạch màu khác, xám trơn, mới hơn hẳn.
Kim đồng hồ chỉ một ký.
Mặt bàn cân trống trơn. Không có gì trên đó, không cả một hạt gạo. Tôi cúi xuống nhìn kỹ. Kim nằm ngay vạch một, không lệch qua lại chút nào, như đang có một thứ nặng đúng một ký đè lên.
Tôi nghĩ tới chuyện lò xo mỏi. Cân để lâu không dùng, sắt rỉ, kim kẹt. Phía sau mặt đồng hồ có cái núm vặn chỉnh số không. Tôi vặn. Kim nhích về số không, nằm im. Tôi ấn tay lên mặt bàn cân thử, kim nhảy lên rồi trở về số không gọn gàng. Cân tốt.
* * *
Trưa đó tôi về nhà ăn cơm. Má tôi bán xôi mặn ở đầu hẻm từ sáng sớm tới chín giờ, trưa thì ở nhà. Tôi kể má nghe căn nhà mới được giao, kể chuyện tờ cam kết cho vui. Má đang lau cái cân đồng hồ nhỏ năm ký, cái cân má dùng mỗi khuya để cân nếp trước khi ngâm. Má nghe tới chữ tiệm gạo thì ngừng tay một chút.
"Tiệm gạo ở đâu?"
"Sau chợ Cái Khế má."
Má không nói gì thêm, lau tiếp. Tôi để ý má lau mặt kính cái cân hơi lâu, lâu hơn cần thiết.
* * *
Sáng hôm sau tôi tới sớm, bảy giờ, tính quét nhà trước khi khách đầu tiên tới lúc chín giờ. Tôi kéo cửa sắt lên. Ánh nắng xiên vô, rọi thẳng một vệt vàng lên mặt đồng hồ cân.
Kim chỉ một ký.
Tôi đứng ở cửa, tay còn nắm thanh sắt. Hôm qua tôi đã vặn về số không. Tôi nhớ rõ. Cửa khoá, chìa chỉ có hai chùm, một chùm tôi giữ, một chùm anh Thạnh mang về Sài Gòn.
Tôi vặn núm lần nữa. Kim về số không. Tôi đứng nhìn cái kim một hồi lâu, rồi cầm chổi quét từ trong ra ngoài, quét vòng tránh cái cân như tránh một người đang đứng giữa tiệm.
Quét tới cửa, tôi nghe sau lưng một tiếng "cạch" nhỏ, tiếng mặt bàn cân bằng sắt hạ xuống khi có ai bước lên.
Tôi không quay lại liền. Tôi đếm tới ba.