☾ Truyện Ma Có Thật
← Mảnh vải trắng sau lưng

Chương 8: Dấu tay không khô

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Chiều hôm ấy anh Quỳ ra đầu đường từ lúc mặt trời còn trên ngọn cây. Anh mặc chiếc áo có mảnh vải trắng sau lưng, đội mũ cối, chân đi dép cao su. Anh đứng quay lưng về phía đoàn xe, mặt hướng vào thung lũng, đúng chỗ mỗi chiều cô vẫn đứng.

Trời sẩm. Tiếng ve tắt. Không có mảnh vải trắng nào khác hiện ra. Chỉ có cái lưng anh Quỳ, hơi gù, mảnh vải màn mới tinh trắng lóa giữa bóng chiều.

Đại đội cử xe tôi đi đầu, thay chỗ xe anh Mạc. Lợi ngồi bên cạnh, cái lược nhôm cài trong túi áo ngực. Nó bảo tôi, nó không trả lại đâu, chị ấy đã trả nó hai lần rồi, lần thứ ba nó giữ.

Anh Quỳ giơ tay. Tôi nổ máy. Mười một chiếc nổ theo.

* * *

Anh đi chậm hơn cô. Một mắt, đường lại nát sau trận rải thảm, anh phải dò từng bước. Có lúc anh vấp, chống tay xuống đá, rồi đứng lên đi tiếp. Tôi bám theo mảnh vải trắng sau lưng anh, cách chừng mười thước, ga nhỏ hết mức, mắt cay xè vì căng.

Pháo sáng thả xuống một lần ở phía núi xa. Anh dừng, giơ tay. Đoàn dừng. Anh đứng đó, không quay lại, và tôi thấy vai anh run lên dưới ánh vàng đục. Pháo sáng tắt. Anh đi tiếp.

Chúng tôi xuống tới Ngầm Đá Trắng. Ếch nhái dưới ngầm đang kêu thì tắt ngấm. Nước nông, trong. Đá trắng dưới đáy sáng nhờ dưới trăng.

Anh Quỳ lội xuống ngầm. Đến giữa dòng, anh dừng lại.

Phía trước anh, ở bờ bên kia, có một mảnh vải trắng thứ hai.

Nó đứng yên trên bờ đá, quay lưng lại. Không đi. Đợi. Tôi nhìn thấy cả hai cùng một lúc qua kính chắn gió, hai mảnh vải trắng, một gần một xa, giữa một thung lũng tối mịt. Lợi nắm lấy cổ tay tôi. Tay nó lạnh ngắt.

Anh Quỳ đứng giữa ngầm rất lâu. Rồi anh quay người lại phía đoàn xe. Lần đầu tiên từ lúc rời trạm, tôi thấy mặt anh. Nó bình thường lắm. Như mặt một người đã chờ một chuyến xe quá lâu, cuối cùng thấy xe đến.

Anh giơ tay lên. Không phải hiệu dừng. Anh vẫy, hai tay, rối rít, như người đứng giữa ngầm vẫy một chiếc xe đang lao tới.

Rồi anh quay lưng, lội sang bờ bên kia. Mảnh vải trắng trên bờ bắt đầu đi. Anh đi theo nó. Không theo con đường. Nó dẫn anh rẽ ngang, men theo bờ suối, đi vào giữa những hố bom chồng lên nhau. Hai mảnh vải trắng nhỏ dần, nhỏ dần, rồi chỉ còn một, rồi không còn gì.

Tôi ngồi trong ca-bin, máy vẫn nổ. Sau lưng tôi mười một chiếc xe chờ trong bóng tối.

Có tiếng chân lội nước. Huệ. Không biết Huệ đã theo đoàn từ lúc nào, ống quần xắn cao, mặt ướt đẫm. Huệ đứng trước mũi xe tôi, quay lưng lại, giơ tay.

Đêm ấy Huệ dẫn chúng tôi qua hết trọng điểm. Có một quả bom rơi chệch về phía núi, mảnh đá văng vỡ kính xe cuối. Huệ nằm rạp xuống, rồi đứng dậy, phủi đầu gối, đi tiếp.

* * *

Sáng ra, ở cánh rừng phía bên kia, tôi nhảy xuống xe đầu tiên, nhìn vào nắp ca-pô. Không có dấu tay. Tôi đi dọc đoàn. Mười hai chiếc xe, mười hai nắp ca-pô phủ bụi đá vôi, khô khốc.

Gần trưa, tổ đi tìm thấy anh Mạc.

Anh ngồi trên một tảng đá giữa Ngầm Đá Trắng, đúng chỗ đêm qua anh Quỳ đứng. Quần áo ướt sũng, môi tím tái, hai tay ôm đầu gối. Anh còn sống. Người ta gọi, anh không nghe. Người ta kéo anh dậy, anh run bần bật như người sốt rét cơn. Hỏi gì anh cũng chỉ nói một câu, nói đi nói lại.

"Cô ấy bảo tôi ngồi đây chờ đổi."

Anh Mạc được đưa ra tuyến sau. Về sau tôi nghe nói anh không bao giờ lái xe nữa, về quê làm thủ kho hợp tác xã, đến chết vẫn không ngồi vào một chiếc ca-bin nào.

Anh Quỳ thì không ai tìm thấy. Chỉ có một điều. Sáng hôm ấy, Huệ ra mộ sau trạm thắp hương. Cái mũ tai bèo ướt trên nấm mộ không còn nữa. Thay vào chỗ ấy là cái mũ cối của anh Quỳ. Khô ráo, sạch sẽ, đặt ngay ngắn, như người ta treo mũ khi về đến nhà.

Từ đó Khe Mây không còn mảnh vải trắng nào hiện ra lúc chiều. Đoàn qua trọng điểm, có xe về, có xe cháy, như mọi trọng điểm khác trên Trường Sơn. Cuối năm ấy đại đội tôi chuyển cung. Thằng Lợi hy sinh năm 1971 ở một ngầm khác, tôi không có mặt. Người ta gửi về cho tôi cái lược nhôm.

* * *

Hết chiến tranh, tôi về lái xe cho công ty vận tải tỉnh, chạy hàng Thái Bình đi Lạng Sơn, đi Vinh. Tôi lái thêm hai mươi năm.

Năm đầu tiên, một sáng giữa tháng Ba, tôi ra bãi xe thì thấy giữa nắp ca-pô có một dấu bàn tay. Nhỏ, năm ngón thon, ướt. Nắng lên ba sào nó vẫn chưa khô.

Tôi lật sổ lịch. Mười bốn. Năm sau cũng vậy, đổi xe nào cũng vậy. Tôi không lau. Luật trạm.

Giờ tôi bảy mươi chín tuổi, không lái xe nữa. Năm ngoái tôi bán chiếc xe tải cuối cùng. Tôi tưởng thế là xong.

Sáng nay trong sân có mùi nước tù, mùi đá ẩm, lạnh như hơi bốc lên từ một cái giếng sâu. Tôi không cần nhìn lịch. Tôi ra lấy chiếc áo phơi trên dây từ chiều qua. Sau lưng áo có ai đã khâu một mảnh vải trắng, vuông vức cỡ cái khăn mặt.

Ba góc đã đính chỉ đen, mũi chỉ đều, nhỏ, như tay con gái. Góc thứ tư còn bỏ dở. Cây kim vẫn cắm ở đó, sợi chỉ ướt rủ xuống, nhỏ từng giọt lên nền xi măng.