Chương 1: Căn nhà cuối cù lao
Khoảng 5 phút đọc·13lượt xem
Tôi làm điện nước ở phường Tân Mai, Biên Hoà, từ năm hai mươi tuổi. Tiệm nhỏ, một mặt tiền ba thước gần chợ, bảng hiệu sơn tay đề Điện Nước Lộc. Ai hư bơm, cháy công tắc, chạm dây thì kêu tôi. Nghề này không giàu, nhưng đều, và tôi quen tay đến mức nhắm mắt cũng biết dây nóng dây nguội bằng mùi nhựa cháy.
Cuối tháng Mười Một năm 2009, mưa đuôi mùa còn rớt lai rai, có người đàn ông lạ ghé tiệm. Ông ta trạc ba lăm mà tóc đã muối tiêu, da trắng kiểu người ít ra nắng, áo sơ mi bỏ trong quần, đi chiếc xe hơi biển số Sài Gòn đậu choán hết lối vô chợ. Ông ta tự giới thiệu tên Khải, bên công ty môi giới nhà đất, cần người câu lại điện cho một căn nhà bên cù lao Hiệp Hoà để dẫn khách tới coi.
Lúc nói chuyện, ông ta nghe tôi với cái đầu hơi nghiêng về bên phải, như người nặng tai một bên đưa tai tốt ra hứng.
"Nhà cũ lắm, kiểu Pháp, chủ mất năm ngoái. Bên điện cắt hơn một năm rồi. Giấy tờ xin lại tôi lo xong, công tơ mới họ gắn ở cổng tuần trước. Anh chỉ cần đi lại dây trong nhà cho sáng đèn, an toàn, để khách coi không ngại."
Tôi hỏi nhà bao nhiêu phòng. Ông ta nói hai tầng, tám phòng, chưa kể hầm. Tôi hỏi hầm có cần điện không. Ông ta lắc đầu ngay, nhanh hơn cần thiết.
"Hầm ngập nước mười mấy năm rồi, bỏ. Anh khỏi xuống."
Giá ông ta đưa ra gấp đôi giá tôi định hô. Trả trước một nửa, tiền mặt, xếp trong phong bì đã đếm sẵn. Chỉ một điều kiện: làm xong việc mỗi ngày trước năm giờ chiều, ra khỏi nhà, khoá cổng. Ông ta nói khu đó vắng, tối không có đèn đường, sợ tôi té.
* * *
Cù lao Hiệp Hoà nằm giữa sông Đồng Nai, nối với Biên Hoà bằng cầu Rạch Cát và cầu Gành. Qua cầu, rẽ theo đường đất ven sông chừng một cây số, nhà cửa thưa dần, rồi tới căn biệt thự đó. Nó đứng một mình ở khúc đường cụt, lưng quay ra sông, trước mặt là bãi cỏ cao tới gối và một cây me cổ thụ đổ bóng che gần hết sân.
Tường vàng loang lổ thành màu nghệ cũ. Mái ngói vảy cá rêu đen. Cửa sổ lá sách sơn xanh, cánh nào cũng khép. Hai tầng, trần cao, ban công sắt uốn hoa.
Công tơ mới gắn trên trụ cổng, hộp nhựa trong còn bóng, dây từ trụ điện ngoài đường kéo vào. Tôi coi số. Bốn số không, rồi mười hai phẩy bốn. Mười hai số cho một tuần chưa ai ở, tôi đoán thợ bên điện thử tải lúc gắn.
Ông Khải mở cổng, mở cửa chính, rồi đứng lại ở bậc thềm. Ông ta không vào. Ông ta chỉ tay vào trong, nói công tắc đèn cầu thang nằm sau cột, cầu dao tổng trong hộc tủ dưới gầm thang, rồi ra xe ngồi. Xe ông ta đậu quay đầu ra đường.
Tôi vào một mình.
Trong nhà mát lạnh dù ngoài trời đang nắng. Gạch bông hoa xanh phủ một lớp bụi mịn, in rõ dấu chân tôi đi tới đâu. Mùi vôi ẩm, mùi gỗ mục, và một mùi nữa tôi không gọi tên được, hơi tanh, hơi ngọt, như nước đọng lâu ngày trong lu. Cầu thang gỗ dẫn lên lầu kêu răng rắc từng bậc. Tôi tìm thấy công tắc đèn cầu thang đúng chỗ ông Khải chỉ, sau cột, nơi người lạ không bao giờ mò ra.
Dây điện trong nhà là dây bọc vải thời Pháp, cũ đến mức sờ vào vỏ bở ra thành bột. Tôi coi sơ một vòng, ghi vào sổ: thay toàn bộ, đi ống luồn nổi, bốn ngày.
Hộc tủ dưới gầm thang có cầu dao tổng, loại sứ cũ, tay gạt bằng gỗ đã lên nước đen. Tôi thử gạt lên. Không có gì sáng, vì bóng đèn trong nhà đã bị tháo hết, chỉ còn đui. Tôi gạt xuống. Khoá cầu dao bằng sợi dây kẽm cho chắc, như thói quen, rồi đi ra.
Cánh cửa xuống hầm nằm cuối hành lang tầng trệt, cửa sắt sơn xám, khoá bằng ổ khoá đồng to bằng bàn tay. Tôi đứng trước nó một lúc. Từ khe cửa phía dưới có hơi lạnh thổi ra, lạnh hơn cái mát trong nhà, và mùi nước đọng rõ hơn. Tôi nhớ lời ông Khải, quay đi.
* * *
Năm giờ kém mười tôi khoá cổng. Trước khi lên xe, tôi nhìn công tơ lần nữa. Mười hai phẩy bốn. Đĩa nhôm trong hộp nằm yên.
Nhà bên cạnh, cách một hàng rào dâm bụt, có bà già ngồi trước hiên lặt rau. Bà nhìn tôi từ lúc tôi tới, nhìn suốt, không giấu. Lúc tôi nổ máy, bà nói với qua, giọng không to.
"Chú làm điện cho nhà đó hả."
Tôi dạ.
"Chú về trước năm giờ nghe. Ngày nào cũng vậy."
Tôi cười, nói ông chủ cũng dặn vậy. Bà không cười lại. Bà cúi xuống rổ rau.
* * *
Sáng hôm sau tôi tới lúc bảy giờ rưỡi, mang theo thang nhôm, cuộn dây mới và ống luồn. Theo thói quen, tôi liếc công tơ trước khi mở cổng.
Mười ba phẩy một.
Tôi đứng đó, cuộn dây còn vác trên vai. Bảy phần mười số. Một đêm. Cầu dao tổng tôi đã gạt xuống và khoá bằng dây kẽm. Trong nhà không một bóng đèn, không một ổ cắm còn nối.
Tôi mở cổng, đi thẳng vào gầm thang. Cầu dao vẫn gạt xuống. Dây kẽm còn nguyên nút tôi xoắn.
Tôi quay ra cổng, mở nắp hộp công tơ, nhìn kỹ đĩa nhôm. Nó đứng yên. Tôi nhìn thêm một lúc nữa, để chắc. Và trong một giây, tôi thấy nó nhích. Một nấc rất nhỏ, không phải tới trước, mà lùi về bên trái, rồi dừng hẳn, như một người vừa định bước thì sực nhớ ra trời đã sáng.
Tôi tự nói là do mình đứng nghiêng mà nhìn lộn. Công tơ cũ hay lắc, công tơ mới cũng có khi lệch. Tôi ghi con số vào sổ, mười ba phẩy một, rồi gạch dưới hai lần.
Bên kia hàng rào, bà già đã ngồi ở hiên. Bà không lặt rau. Bà nhìn tôi, rồi nhìn cái hộp công tơ, rồi lại nhìn tôi.