☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 11: Gian trong

Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem

Tôi mở lúc bảy giờ sáng, có ông Tuyên đứng cạnh. Tôi không gọi chú Lợi. Tôi biết nếu gọi thì sáng nay sẽ thành một buổi họp.

Ổ khoá đồng vẫn móc trong khoen, vẫn khoá, lạnh như mọi khi. Tôi luồn xà beng vào khoen, tì chân vào tường, bẩy. Khoen sắt gỉ bật ra khỏi gỗ ở cái bẩy thứ ba, kéo theo một mảng ván mục. Ổ khoá rơi xuống xi măng, kêu một tiếng gọn, nặng, rồi trượt đi một đoạn ngắn. Tiếng ấy tôi đã nghe một lần, từ bên kia cánh cửa.

Ông Tuyên cầm đèn pin. Tôi đẩy cửa.

Mùi ập ra trước. Ông Tuyên lùi lại, đưa khuỷu tay che mũi. Tôi đứng yên. Tôi đã ngửi mùi này hai tháng qua khe cửa, giờ chỉ là nó không còn bị cản.

Gian trong hẹp, không cửa sổ, tường ốp một thứ vật liệu xốp màu xám đã mục, từng mảng rơi xuống nền. Giữa gian là cái giá sắt ba tầng ông Cường tả, sơn trắng tróc gần hết, gỉ loang. Hai tầng trên trống. Tầng dưới cùng, sát nền, có người nằm.

* * *

Ông nằm ngửa, thẳng, hai chân duỗi, đầu gối lên một cái túi vải nhỏ gấp lại. Áo bảo vệ màu cỏ úa. Quần kaki. Đôi dép nhựa đặt ngay ngắn dưới chân giá, mũi dép quay ra cửa.

Hai tháng trong một gian kín không nắng, không khí lạnh dưới nền, da ông không rữa mà khô lại, sẫm, co vào xương như da trống. Mặt ông quay nghiêng về phía cửa. Về phía chúng tôi. Về phía gian ngoài, nơi cái ghế đá ở bên kia hai lớp cửa.

Bàn tay trái đặt trên ngực. Ngón út cụt một đốt, đầu ngón tròn, giờ chỉ còn xương bọc da.

Tôi đi vào, cúi xuống. Trong túi ngực áo ông, một góc vải phin thò ra. Cái khăn tay. Tôi không rút ra. Nhìn thấy nó là đủ.

Dưới nền, cạnh giá sắt, một vệt sẫm đã khô từ lâu, loang từ chỗ ông nằm ra phía cửa, chỗ hôm nào tôi đẩy que diêm vào. Cạnh đầu ông có một hộp diêm Thống Nhất và một bao Bông Sen rỗng, chưa gấp.

Tôi đứng lên. Tôi hỏi ông Tuyên, không quay lại.

"Bác về gọi pháp y với chú Lợi. Cháu đứng đây."

Ông Tuyên đi, bước nhanh, gần như chạy. Tôi ở lại trong gian trong với ông Khảm, một lúc lâu. Tôi không thắp hương, vì tôi không nghĩ ông cần. Tôi chỉ đứng, và lần đầu tiên tôi nhìn ông mà ông không quay lưng.

* * *

Buổi sáng ấy nhà xác đông như hôm bốn xác. Pháp y, công an, chú Lợi, bà Tâm, phó giám đốc. Không ai vào gian trong quá ba phút. Tôi ngồi ở ghế đá, trả lời từng người cùng một câu chuyện.

Pháp y bảo chết khoảng hai tháng. Không dấu vết bạo lực. Hai phổi, theo lời ông ấy, chắc đã hỏng từ lâu. Người ta tìm thấy trong túi quần ông một cái chìa khoá to, loại chìa khoá kho Trung Quốc, tra vào ổ khoá đồng dưới nền thì vừa khít. Chìa buồng lạnh. Ông mang theo vào trong.

Bà Tâm đứng ở cửa gian trong nhìn cái ổ khoá rồi nhìn tôi.

"Thế ai khoá ngoài?"

Không ai trả lời. Ông Tuyên nhìn xuống chân mình. Chú Lợi nói ổ khoá cũ, có khi ông ấy khoá từ trong qua khe cửa rồi kéo. Pháp y bảo cánh cửa này đóng khít, không có khe nào thò tay ra được. Chú Lợi bảo thôi, việc ấy để sau. Không ai nhắc lại việc ấy nữa, cả sau này.

* * *

Buổi chiều, lúc người ta đã đưa ông sang khoa Giải phẫu bệnh, tôi ngồi lại một mình với quyển sổ nhận xác. Tôi lật về trang đầu, ngày mùng bốn tháng Chín, ngày bàn giao. Dòng ấy trống. Tôi cầm bút.

Rồi tôi dừng.

Tôi nghĩ lại từ đầu. Chiều bàn giao, ông ngồi ghế đá, ho, đặt bao Bông Sen bảy điếu lên bệ cửa sổ, bảo không mang. Ông đi về phía khu tập thể. Hành chính thu phòng ông ngay hôm ấy, giấy niêm phong còn nguyên. Sáng hôm sau ông Tuyên chở ông ra bến xe. Ông bảo về trước đi.

Rồi ông đi bộ ba cây số quay lại, lúc tôi còn ngủ, lách qua cánh cửa hé một bàn tay. Ông đi mười hai bước đến cuối gian ngoài, vào gian trong, nằm xuống tầng dưới cùng, chỗ ông đã nằm quen những trưa hè.

Và từ đêm ấy, mỗi đêm, ông ra ngồi hút thuốc.

Đêm đầu tiên tôi nghe tiếng ghế đá, ông đã ở trong này. Tôi còn nghĩ ông ngại nên không dậy. Đêm tôi hỏi bác chưa về à, ông gật, ông đã ở trong này. Đêm bốn xác, ông ngồi với ông già tóc bạc, cho điếu thuốc, bảo con nằm đây là yên nhất. Hai tháng ông nằm cách giường tôi mười hai bước, sau một cánh cửa tôi đi qua mỗi ngày để rải mùn cưa. Đêm nào ông cũng lách qua một khe hở tôi để sẵn mà không biết để cho ai.

Cái khe một bàn tay không phải để cho người chết mới có đường đi. Ông Tư nói thế, ông Khảm kể lại thế, nhưng ông Khảm giữ nó hai mươi năm cho một lý do khác, và ông dặn tôi giữ nó cho lý do ấy. Ông dặn từ chiều bàn giao, lúc ông đã biết đêm sau mình nằm đâu.

Cánh cửa hé là để ông ra ngồi hút thuốc.

Tôi đặt bút xuống. Dòng mùng bốn tháng Chín tôi để trống. Ông không phải người tôi nhận. Ông là người bàn giao cho tôi. Việc bàn giao ấy, hôm nay tôi mới hiểu là bàn giao cái gì.

* * *

Chiều tắt. Tôi ra hiên, ngồi xuống ghế đá, đầu bên phải. Ghế kẹt, nghiêng về bên trái, như mọi khi. Mặt đá bên trái lạnh.

Trên bệ cửa sổ phòng trực, bao Bông Sen còn mười ba điếu. Tôi mang ra, đặt lên mặt đá bên trái, chỗ cũ. Tôi không biết đêm nay ông có ra không, khi người ta đã mang ông sang khoa Giải phẫu bệnh, nằm trong một cái buồng lạnh còn chạy.

Tôi kéo cửa hé một bàn tay. Tôi để nguyên xà beng ở góc phòng, phòng khi.