Chương 6: Người đàn bà trong mơ
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Tôi cất chiếc cúc bạc vào cái lọ thuốc cũ, chung với sợi tóc dài. Tôi không biết vì sao mình giữ chúng. Có lẽ vì tôi là thợ, quen giữ lại những mẩu sắt thừa, những con ốc rơi, phòng khi cần. Cái lọ nằm dưới đáy túi đồ nghề, đi theo tôi ra công trường mỗi sáng.
Bố vợ tôi nói dối. Tôi biết điều đó ngay từ lúc ông nói chữ "ốm". Người ta không quỳ xuống khấn tên một người chết vì ốm như thế.
Chủ nhật tôi lại sang nhà bà Thoong. Lần này tôi mang theo một chai rượu ngô và nửa cân thịt trâu gác bếp. Bà ngồi chỗ cũ, nhai trầu, nhìn tôi leo dốc lên như đã biết trước tôi sẽ đến.
* * *
Tôi đặt chiếc cúc bạc lên sàn trước mặt bà. Bà cúi xuống nhìn, không cầm. Bà nhai chậm lại.
"Cúc áo cưới của con Phiêng. Bố nó đúc cho nó lúc về nhà chồng. Đủ mười hai con bướm."
"Bà kể cho con nghe mẹ Ín mất thế nào. Bố vợ con bảo là ốm."
Bà Thoong nhổ bã trầu, lau miệng, rồi têm một miếng trầu mới. Tay bà gầy, đốt ngón to, móng đen vì vôi. Bà têm rất lâu, rất kỹ, như để có thời gian nghĩ.
"Không phải ốm. Đẻ."
Bà kể. Mùa mưa năm 1992, Phiêng có mang đứa thứ hai. Đêm mười bốn tháng Bảy âm, mưa to như trút, suối sau vườn dâng lên ngập cả cầu tre. Phiêng trở dạ lúc nửa đêm, sớm hơn ngày tính gần một tháng.
"Ông Pánh sang gọi. Gọi ở chân dốc, khản cả cổ. Bà theo về, lội nước, lên cầu thang trước. Lên đến nơi... máu nhiều lắm rồi."
"Đứa bé thì sao ạ?"
"Con trai. Ra được thì tím ngắt rồi. Bà vỗ, bà thổi, dốc ngược lên. Không khóc tiếng nào. Con Phiêng nằm nhìn, hỏi mãi sao con không khóc. Gần sáng thì nó đi theo con."
Bà ngừng lại. Ngoài sân con gà mái kêu cục cục gọi con. Tôi ngồi im, hai tay đặt trên gối, thấy lưng mình lạnh dần.
* * *
"Bà ơi. Từ nhà ông Pánh sang nhà bà, đi cửa phụ chỉ hai phút."
Bà Thoong gật.
"Đêm ấy ông Pánh đi cầu thang trước. Vòng chuồng trâu, bờ ao, nương sắn. Mưa, trơn, ngã hai lần. Mười lăm phút mới đến chân dốc."
"Sao bố không đi cửa phụ?"
Bà Thoong nhìn tôi rất lâu. Miếng trầu mới têm vẫn nằm trong tay bà, chưa đưa lên miệng.
"Đi một lần rồi. Biết giá rồi. Không dám nữa."
Tôi hỏi lần trước là lần nào, giá là gì. Bà lắc đầu. Bà nói chuyện ấy để ông Pánh kể, bà không kể chuyện nhà người ta. Rồi bà bỏ miếng trầu vào miệng, nhai, và nói thêm một câu mà tôi nhớ đến bây giờ.
"Con Phiêng tiếc. Tiếc thằng bé chưa khóc được tiếng nào. Chết mà tiếc thì không đi được. Ở lại giữ nhà thôi."
Đứa con trai không tên ấy chôn riêng ở chân suối, theo lệ trẻ chết lúc sinh. Phiêng thì làm ma, đưa lên rừng ma, rồi theo phong tục mời về góc hóng làm ma nhà. Từ đó đến nay hai mươi năm.
Lúc tôi về, bà Thoong đẩy chiếc cúc bạc lại cho tôi, không chịu giữ.
"Nó trả nhà ấy thì nhà ấy giữ. Đồ ma nhà người ta, bà không cầm."
* * *
Tôi về đến nhà thì Ín đang ngủ trưa. Cô nằm nghiêng trên chiếu, bụng tròn căng dưới tấm chăn mỏng. Bụng cô đã tụt xuống, bà Thoong bảo chỉ còn vài tuần.
Tôi ngồi xuống cạnh, nhìn cô ngủ. Tôi nghĩ đến người đàn bà nằm nhìn bà đỡ dốc ngược con mình lên. Nghĩ đến Ín, người không khóc được. Nghĩ đến bài ru vọng qua vách mỗi đêm, đều đặn hai mươi năm, ru một đứa bé đã nằm dưới chân suối.
Ín giật mình tỉnh. Mắt cô mở to, ngơ ngác một lúc mới nhận ra tôi.
"Em mơ," cô nói.
Cô kể, giọng còn ngái ngủ. Trong mơ cô nằm ở chỗ này, trên chiếu này, nhưng là ban đêm, bếp đã ủ. Một người đàn bà ngồi bên cạnh cô, chỗ tôi đang ngồi. Người ấy mặc áo cóm chàm, khăn piêu quấn đầu, tóc búi cao. Cô không thấy mặt, chỉ thấy hai bàn tay gầy đặt lên bụng cô, xoa chậm, rất lâu.
"Người ấy có đeo vòng không?" tôi hỏi.
Ín nhìn tôi lạ lùng.
"Có. Vòng bạc. Lạnh lắm. Chạm vào bụng em lạnh như nước suối."
Tôi không nói gì. Ín ngồi dậy, tay đặt lên bụng, chỗ người trong mơ đã đặt tay.
"Người ấy hỏi em một câu. Em định trả lời thì tỉnh."
"Hỏi gì?"
Ín cau mày, cố nhớ. Rồi cô nói, chậm rãi, bằng tiếng Thái trước, rồi dịch lại cho tôi bằng tiếng Kinh.
"Đặt tên cho nó chưa. Khi nó khóc thì gọi nó bằng tên gì."