Chương 4: Tiền trong lon sữa
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Tôi tới gốc gòn trễ, mặc vội cái áo đồng phục, chưa kịp cài nút. Cô đứng đó, không có vẻ gì là đợi lâu, cũng không có vẻ gì là mới tới. Cô đứng như một thứ vẫn ở đó.
"Cho em ra chợ Thủ Đức, góc quán hủ tiếu ông Tám."
Tôi hỏi quán nào, chợ rộng. Cô nói:
"Anh chạy tới đó rồi em chỉ."
Rồi vẫn câu dặn chạy chậm. Lần này cô nói sát gáy tôi, hơi thở lạnh và có mùi bùn, chữ cuối kéo dài ra như người hụt hơi.
Đường từ bãi đất ra chợ Thủ Đức đi ngang ga Bình Triệu, đi dọc đường ray một đoạn. Tôi đi theo định vị, ra quốc lộ, không quẹo vào Kha Vạn Cân dù gần hơn. Cô không nói gì về chuyện đó. Chỉ có cái lạnh ướt ở lưng tôi lan rộng hơn hai lần trước, lan lên tới bả vai, như cô ngồi sát hơn.
Chợ Thủ Đức giờ đó còn đèn ở khu hàng rau, mấy chiếc xe tải nhỏ đang xuống hàng. Cô chỉ tay về phía góc chợ bên kia, dãy ki ốt đóng cửa. Tới một cái ki ốt cửa cuốn sơn xanh đã tróc, cô kêu dừng.
Cửa cuốn kéo kín. Trên cửa còn dòng chữ sơn tay đã mờ, hủ tiếu gõ, bán khuya, và một số điện thoại mất hai số cuối. Dưới chân cửa có cái lon sữa cắm chân nhang, nhang cháy hết lâu rồi.
Cô xuống xe, đưa nón, đưa tiền. Hai mươi hai ngàn. Hai tờ mười, một tờ hai ngàn, ướt, bết vào nhau, cô phải tách từng tờ bằng móng tay. Rồi cô đứng quay mặt vào cửa cuốn, hai tay buông, không gõ, không gọi. Đứng im.
Tôi ngồi trên xe chờ. Tôi không biết chờ gì. Một phút. Hai phút. Cô không nhúc nhích. Mấy anh bốc vác bên khu rau nhìn qua, rồi quay đi làm tiếp, như không thấy gì lạ. Hay như không thấy cô.
Tôi nổ máy. Tới góc đường tôi nhìn vào kính chiếu hậu. Cô vẫn đứng đó, lưng quay về phía tôi, nhỏ xíu dưới bóng đèn đường. Tôi quẹo. Kính hậu đổi góc, tôi nhìn lại một lần nữa qua khoảng trống giữa hai dãy ki ốt.
Trước cửa cuốn không có ai.
* * *
Về trọ bốn giờ sáng. Tôi làm cái việc tôi đã định làm trên đường về. Tôi đổ lon sữa bò ra nệm, đếm.
Tiền của cô, tôi nhớ rõ. Cuốc đầu ba mươi tám ngàn, năm tờ. Cuốc hai mười lăm ngàn, hai tờ. Cuốc ba vừa rồi, hai mươi hai ngàn, ba tờ. Mười tờ, bảy mươi lăm ngàn, ướt, phải nằm riêng một góc trong đống tiền khô của tôi.
Trong lon có đúng ba tờ ướt. Hai tờ mười, một tờ hai ngàn. Tiền của cuốc vừa rồi.
Bảy tờ kia không có. Tôi lật từng tờ tiền khô, lật nệm, lật cái lon, soi đèn điện thoại xuống khe sàn gác. Không có. Ba mươi tám ngàn và mười lăm ngàn, bảy tờ tiền ướt không khô, biến mất khỏi một cái lon nằm trong góc phòng khoá cửa.
Rồi tôi nhìn kỹ tờ hai ngàn vừa nhận. Góc trái trên bị rách một miếng nhỏ hình tam giác. Tôi đã thấy vết rách đó. Tờ hai ngàn trong cuốc đầu tiên, tờ tôi trải lên bệ cửa sổ, cũng rách y chang chỗ đó.
Cô trả tôi bằng tiền tôi đã nhận.
Tôi ngồi với ý nghĩ đó tới sáng. Tiền tôi nhận đêm trước, bằng cách nào đó, quay về túi áo khoác cô. Rồi đêm sau cô lấy ra trả tôi. Cô chỉ có bấy nhiêu tiền. Mỗi đêm cô trả, mỗi sáng nó về với cô, như nước từ ao bốc lên rồi lại mưa xuống ao.
Sáng ra, trước khi ngủ, tôi lấy cây bút bi viết lên góc từng tờ tiền ướt một chữ K nhỏ. Mực bi trên tiền ướt loang ra, nhưng còn đọc được.
* * *
Trưa tôi gọi tổng đài. Tôi nói tôi muốn hỏi về mấy cuốc khách không hiện tên, điểm đón không rõ địa chỉ. Cô nhân viên kêu tôi đọc mã cuốc. Tôi đọc dãy số dưới cuốc đêm qua.
Im lặng một lúc. Tiếng gõ bàn phím. Rồi cô nhân viên hỏi:
"Anh đọc lại giùm em. Anh chắc là anh đọc đúng không?"
Tôi đọc lại.
"Mã này bên em không tìm thấy trong hệ thống hiện tại anh ơi. Định dạng này là định dạng cũ. Bắt đầu bằng mười sáu là cuốc đặt năm 2016. Bên em đổi định dạng từ cuối năm đó rồi. Cuốc cũ cỡ đó không thể hiện lên máy tài xế được."
Tôi hỏi cuốc năm 2016 đó là cuốc gì. Cô nói cô không tra được, hệ thống cũ không còn. Cô hỏi tôi có cần báo lỗi ứng dụng không. Tôi nói thôi.
Tôi mở lại lịch sử cuốc. Ba cuốc của cô, ba mã. Cả ba đều bắt đầu bằng mười sáu. Cả ba có chung một dãy số dài ở giữa. Chỉ khác nhau mấy số cuối, như ba lần gọi của cùng một người.
Ai đó, ba năm trước, đã gọi một chiếc xe. Và bây giờ nó mới tới tay tôi.