Chương 6: Ông Tư câu đêm
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Tôi tới bãi đất sớm, trước giờ cô hay gọi xe chừng hai chục phút. Tôi muốn thấy cô tới. Thấy cô đi từ đâu ra.
Tắt máy, tắt đèn, dắt xe vào mé cỏ cách gốc gòn chừng ba chục thước. Đêm không trăng. Đường ray bên kia lâu lâu rung lên, tiếng tàu hàng xa xa rồi im. Con rạch bốc mùi bùn nồng. Tôi đứng dựa xe, tay trái còn băng, nghe muỗi.
Có tiếng động phía rạch. Một đốm đèn pin nhỏ. Rồi một giọng ông già cất lên từ mé nước.
"Cậu đứng đó chi vậy?"
Ông ngồi trên một cái thùng sơn lật úp sát mé rạch, cần câu cắm xuống bùn, bên cạnh là cái giỏ và cái đèn pin đội đầu đã tắt. Ông mặc áo thun ba lỗ, quần đùi, dép lào. Tóc bạc cắt sát. Ông không có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi.
Tôi nói tôi chờ khách. Ông ờ một tiếng, kéo cần lên coi mồi, cắm lại.
"Tui là Tư. Câu ở rạch này mười mấy năm. Cậu chờ con nhỏ đó phải hông?"
Tôi không trả lời. Ông Tư cũng không cần tôi trả lời.
"Nó đứng gốc gòn đó ba năm rồi. Đêm nào cũng cỡ giờ này. Giơ cái điện thoại lên, sáng sáng, ngó ra đường đất. Xe ôm chạy ngang hoài. Có chiếc chậm lại... rồi rồ ga đi luôn. Chắc tới gần thấy nó ướt."
Ông nói chậm, kiểu người kể chuyện đã kể nhiều lần cho rạch nghe.
"Tháng rồi mới có xe ngừng. Xe cậu. Tui ngồi đây thấy hết."
Tôi hỏi, giọng khô:
"Cô đó chết ở đây hả chú?"
"Hông. Chỗ này nó đứng kêu xe thôi. Hồi còn sống nó làm bên chợ Thủ Đức, về khuya hay ra đây kêu. Chỗ vắng, xe rẻ. Chết là chết bên kia."
Ông hất cằm về phía đường ray, về phía xa, nơi đường ray chạy dọc Kha Vạn Cân xuống cầu Bình Lợi cũ.
"Dưới chân cầu sắt. Đoạn tối. Tui là người thấy nó."
Tôi thấy cổ họng mình khép lại.
"Bữa đó tui câu ở mé sông, gần cầu, ba giờ sáng tui xách giỏ về ngang. Thấy cái gì nằm sát mép đường. Tưởng bao rác. Tới gần thì thấy tóc."
"Tui lật nó lên, nó còn thở. Thở khẽ lắm. Tay nó còn nắm cái điện thoại, màn hình còn sáng. Tui kêu xe cứu thương, chờ hai chục phút mới tới. Lên xe rồi, chạy được mấy cây thì nó đi."
Ông Tư cắm lại cần câu, nhìn mặt rạch.
"Tui hỏi nó, con ơi con tên gì. Nó không nói tên. Nó nói một câu thôi. Nó nói, chú ơi, chú kêu giùm con chiếc xe. Rồi thôi."
* * *
Tôi đứng đó một hồi lâu không nói. Ông Tư cũng không nói. Tiếng tàu hàng đi qua phía xa, đường ray rung một lúc rồi im. Tôi hỏi câu cuối:
"Rồi sao chú vẫn ra đây câu? Chú không sợ hả?"
Ông cười một cái không ra tiếng.
"Sợ gì. Nó có làm gì tui đâu. Tui kêu xe cho nó rồi mà. Nó còn thiếu ai thì nó kiếm người đó."
Đám muỗi quanh tôi thôi vo ve, cùng một lúc, như có ai tắt. Điện thoại trong túi tôi sáng lên qua lớp vải. Tôi không cần lấy ra coi.
Tôi quay lại gốc gòn. Cô đã đứng đó. Áo khoác ướt. Tóc ướt. Tôi nhìn sang mé rạch, ông Tư cúi xuống giỏ cá, không ngẩng lên.
"Cho em tới Hàng Xanh, cổng cấp cứu."
Như đêm đầu. Tôi gật. Cô ngồi lên mà chưa dặn câu quen. Tôi chờ. Tới lúc tôi nổ máy, một bàn tay lạnh đặt lên vai tôi, mấy ngón tay bấu nhẹ qua lớp áo, như người sợ té.
"Chậm... anh."
* * *
Đường đi vẫn đường đó. Cầu Bình Triệu, Đinh Bộ Lĩnh, Nơ Trang Long. Lưng tôi lạnh ướt từ bả vai xuống thắt lưng. Lần này tôi không nhìn kính hậu. Tôi nhìn đường. Tôi chạy chậm, chậm tới mức một anh xe ôm khác vượt lên ngoái nhìn.
Tới cổng cấp cứu, tôi dừng sát lề. Cô không xuống.
Tôi ngồi chờ. Anh bảo vệ ngước lên nhìn, rồi lại gật gù. Sau lưng tôi nước nhỏ xuống, không rơi vào chỗ để chân nữa mà rơi trúng mắt cá chân tôi, chảy vô trong dép, lạnh buốt. Rồi tiếng cô, rất nhỏ:
"Thôi. Trễ rồi."
Tôi hỏi trễ gì. Cô không trả lời câu đó.
"Cho em về hẻm."
Tôi quay xe. Chạy ngược lại con đường vừa đi, qua cầu, về đường số chín. Suốt đoạn đường đó cô không nói gì. Chỉ có nước nhỏ, và hơi lạnh ở lưng tôi càng lúc càng nặng, như có người tựa hẳn vào.
Đầu hẻm, bàn thờ ông Thiên có nhang đỏ. Cô xuống, đưa tiền. Hai lượt cộng lại năm mươi ba ngàn. Tiền ướt, lạnh, mấy tờ bết vào nhau thành một miếng. Tôi lật nhanh góc mấy tờ dưới đèn đường. Tờ hai chục có chữ K loang mực. Chữ của tôi.
Cô đi vào hẻm. Tới cây mận, cô dừng lại, không quay đầu, nói với bức tường:
"Lần sau anh đi đường kia nha."
Rồi khuất.
Tôi ngồi trên xe, nhìn đầu hẻm, nghĩ về chữ kia. Đường kia. Ở Hiệp Bình Chánh này, với tôi, chỉ có một con đường gọi là đường kia. Con đường ba năm nay tôi đi vòng hai cây số để khỏi phải nhìn thấy.