☾ Truyện Ma Có Thật
← Cữ cám chín giờ

Chương 1: Bè bên cạnh

Khoảng 5 phút đọc·11lượt xem

Tôi về làng bè La Ngà tháng Ba năm 2010, lúc nước hồ đang xuống và nắng chưa gắt. Trước đó tôi chở đá thuê cho một lò gạch ở Định Quán, lương không đủ nuôi vợ con. Chú Hai Thạch, người mua cá bán cám ở chợ cầu La Ngà, nói có một cái bè đang bán rẻ, sáu chục triệu, lưới còn tốt, nhà bè còn mới. Tôi vay ngân hàng huyện ba chục, mượn má hai chục, còn lại gom vàng cưới của vợ.

Cái bè nằm phía dưới cầu La Ngà chừng cây số, thuộc ấp 4 xã Phú Ngọc, chỗ sông bắt đầu loang ra để đổ vô hồ Trị An. Khúc đó có chừng hai chục bè, nối nhau bằng cầu ván và dây neo, phần nhiều là dân Việt kiều Campuchia về từ Biển Hồ mấy chục năm trước. Họ nuôi cá điêu hồng, cá lăng, cá chép. Ai cũng nợ ngân hàng, ai cũng ngóng giá cá.

Bè của tôi là một khung gỗ nổi trên hai dãy thùng phuy nhựa xanh, giữa là lồng lưới sâu chừng ba thước, trên là cái nhà lợp tôn, vách ván, rộng bằng hai chiếc chiếu. Có bếp dầu, có bình ắc quy, có cái máy nổ cũ để chạy quạt nước lúc cá thiếu hơi. Ở góc bè, sát mé lồng, có một cây cột gỗ đen, cao quá đầu người, đầu cột đóng một cái móc sắt để treo đèn.

Chú Hai Thạch vỗ cây cột, nói với tôi:

"Cột căm xe đó. Mối không ăn, nước không mục, trăm năm còn nguyên. Bè này hồi trước không có cột, tui gắn thêm cho chú, khỏi tính tiền."

Tôi cảm ơn. Lúc chú quay đi, tôi mới để ý gần đầu cột, phía dưới cái móc chừng hai gang, có một vết lõm chạy vòng quanh thân gỗ. Vết lõm nhẵn bóng, sâu bằng ngón tay út, đều đặn như người ta tiện. Như có sợi dây gì xiết vào đó rất lâu. Tôi nghĩ chắc dây neo cũ, không hỏi.

* * *

Cách bè tôi chừng ba chục thước về phía hạ lưu có một cái bè nữa. Bè đó không có ai.

Lưới lồng rách từng mảng, thùng phuy sắt gỉ đỏ, nghiêng một bên. Nhà bè tốc mất nửa mái tôn, cửa ván buông thõng. Dây neo còn, nên bè cứ nằm đó, quay quay theo con nước. Ở góc bè, đúng chỗ như cây cột của tôi, chỉ còn một khúc cột cụt, bị cưa ngang tầm đầu gối, mặt cắt đã xám.

Tôi hỏi chú Hai Thạch bè đó của ai. Chú nói nhanh, mắt nhìn chỗ khác:

"Của ông Bảy Lành. Năm ngoái cá ổng chết trắng bè, ổng... bỏ đi rồi. Kệ nó. Bữa nào tui mua lại làm phuy."

Vợ tôi, Hạnh, nhìn cái bè hoang hồi lâu rồi nói nhỏ, ở gần cái đó chắc buồn lắm. Con Na, con gái tôi bốn tuổi, thì khoái, vì nó nói bè kia có chim về đậu.

* * *

Tôi thả hai chục ngàn con điêu hồng giống. Ngày cho ăn hai cữ, sáu giờ sáng và sáu giờ chiều, cám viên bao hai lăm ký mua chịu của chú Hai Thạch. Rải cám xuống, cá nhỏ bằng ngón tay bu lên đớp lụp bụp, mặt nước sôi như cơm. Tôi đứng nhìn, thấy số tiền nợ của mình đang bơi.

Nhưng cữ chiều đầu tiên, cá không ăn.

Tôi rải một thúng, cám nổi lềnh bềnh, trôi dạt vô góc lồng. Cá lặn hết, không một con nào lên. Tôi tưởng nước trở, sợ cá bệnh, lấy đèn pin rọi xuống. Cá đứng từng đàn dưới đáy lồng, đầu quay hết về một hướng. Hướng hạ lưu. Hướng cái bè hoang.

Hạnh nấu cơm xong thì trời tối hẳn. Làng bè lên đèn, mỗi bè một bóng đèn bình vàng vọt, soi xuống nước thành từng vệt dài. Tôi ngồi ở mé lồng hút thuốc, bắt đầu quen với cái mùi của chỗ ở mới: mùi cám ủ, mùi bùn, mùi nhớt cá, mùi dầu máy.

Gần khuya, các bè bắt đầu tắt bớt đèn để tiết kiệm bình. Ếch nhái dưới đám lục bình đang kêu inh ỏi thì im bặt, cả một lượt, như có ai đập tay xuống nước.

Và bên bè hoang, một ngọn đèn sáng lên.

Ngọn đèn màu vàng đục, kiểu đèn dầu hoặc đèn bình vặn nhỏ, treo lơ lửng ngang tầm đầu người ở góc bè. Đúng chỗ cây cột cụt. Mà cột đó chỉ còn một khúc ngang gối, tôi nhìn ban ngày rõ ràng.

Rồi tôi nghe tiếng rào rào.

Tiếng cám viên rải xuống nước. Không lẫn được. Người nuôi cá nghe tiếng đó mỗi ngày hai lần, nghe trong mơ cũng biết. Rào rào một vốc, nghỉ, rào rào một vốc. Giữa hai lần rải có tiếng lưỡi chắt chắt, kiểu người ta kêu cá lên ăn. Rồi mặt nước bên đó sôi lên lục bục, tiếng cá đớp mồi dày đặc, nặng nề, như lồng bên đó đang đầy cá lớn.

Lồng bên đó lưới rách. Tôi đã nhìn thấy ban ngày. Trong lồng không có gì, chỉ có nước sông chảy qua.

Tôi quay lại nhìn lồng mình. Cám cữ chiều vẫn nổi ở góc lồng. Và giữa lúc tôi nhìn, mặt nước lồng tôi bắt đầu rộn lên. Cá tôi đang lên ăn. Hai chục ngàn con lên cùng một lúc, đớp hết sạch chỗ cám nổi từ hồi chiều, ào ào như mưa đổ ngược.

Tôi lấy đèn pin, rọi qua bè hoang.

Vệt đèn pin quét qua mái tôn tốc, qua khúc cột cụt, qua mặt lồng rách. Không có ai. Không có đèn. Ngọn đèn vàng tắt lúc nào tôi không biết. Tiếng rào rào ngưng. Mặt nước bên đó phẳng lì, đen, chỉ có bóng cây cột cụt in xuống.

Tôi tắt đèn pin. Lồng tôi cá vẫn ăn, lụp bụp, no nê, rồi thưa dần, rồi lặng.

Tôi vô nhà, cài cửa ván, nằm xuống cạnh Hạnh và con Na. Tôi không kể. Tôi nói với mình là đèn ghe câu, là mình mới về bè chưa quen.

Sáng hôm sau Hạnh ra mé lồng vo gạo, kêu tôi.

"Hồi tối anh cho cá ăn thêm cữ hả?"

Tôi nói không. Hạnh chỉ xuống nước.

Quanh lồng tôi, sát thành lưới, nổi một vành cám viên ướt. Cám hạt to, màu nâu sậm, không phải loại tôi mua của chú Hai Thạch. Cám đó cá tôi không ăn, chỉ nổi đó, dạt theo nước, bám đầy một vòng quanh chân cây cột đèn.