Chương 4: Ghe cám dì Út
Khoảng 4 phút đọc·10lượt xem
Tôi không mua cám của chú Hai Thạch nữa. Tôi mua ở ghe dì Út.
Ghe dì Út đậu dưới chân cầu La Ngà, bán cám, bán muối hột, bán vôi, bán thuốc cá, bán nhang. Dì ngoài sáu mươi, dân Biển Hồ về, góa chồng, sống một mình trên ghe. Dân bè ai cũng mua của dì một lần rồi lại quay về mua chịu chú Hai Thạch vì dì không bán chịu. Tôi mua của dì vì tôi muốn hỏi.
Lần đầu tôi vác hai bao cám xuống xuồng, dì hỏi bè chú ở đâu. Tôi nói ấp 4, kế bè ông Bảy Lành. Dì đang đếm tiền thì dừng tay. Dì nhìn tôi từ đầu xuống chân, rồi với tay lấy một bó nhang trên kệ, nhét vô bao cám của tôi.
"Cái này dì cho. Tối thắp ở mé lồng, hướng về bên đó."
"Bên đó là bên nào dì?"
Dì không trả lời. Dì nói tuần sau xuống lấy cám tiếp, dì để dành cho.
* * *
Tuần sau tôi xuống, dì Út pha trà, kêu tôi ngồi. Ghe dì chật, mùi cám, mùi nhang, mùi dầu gió. Dì hỏi tôi cá có ăn không. Tôi nói ăn, mà toàn ăn cữ chín giờ. Dì gật.
"Khúc đó vậy từ hồi nào tới giờ. Từ hồi ông Bảy còn."
Tôi hỏi dì biết ông Bảy. Dì nói biết, ổng mua cám của dì mười mấy năm, ngày nào cũng ghé, mua cám hạt to loại nuôi cá lăng, mỗi lần một bao. Dì nói ổng nuôi điêu hồng mà mua cám cá lăng, dì hỏi, ổng nói cữ tối cho ăn cám to nó no lâu.
"Ổng cho ăn cữ tối?"
"Chín giờ. Mưa cũng rải. Sốt cũng rải. Bữa đám ma vợ ổng... tối đó ổng cũng về bè."
Tôi hỏi sao phải giờ đó. Dì Út uống hết chén trà rồi mới nói.
"Khúc dưới cầu năm nào cũng có người chết nước. Đò chìm, con nít té bè, say rồi nhảy cầu. Dưới đó đông lắm, chú. Mùa nước trở tụi nó đói, tụi nó lên. Tụi nó lên là cá chết, nổi trắng như trấu."
Dì nói hồi ở Biển Hồ người ta cúng. Về đây cúng mấy năm rồi bỏ, đời khó, cá chết hoài.
Năm 2005 ông Bảy chết trắng bè lần đầu. Từ năm đó ổng không cúng. Ổng rải cám. Cám hạt to, rải xuống sông chứ không phải xuống lồng. Rải đều tay, chắt lưỡi kêu như kêu cá.
"Rải cho ai dì?"
"Cho tụi nó ăn, khỏi lên đòi."
Tôi ngồi im. Dì nói, từ năm đó khúc sông dưới cầu không chết cá nữa. Các khúc khác vẫn chết, năm nào cũng chết đâu đó. Riêng khúc ông Bảy, hai chục bè sống hết. Dân bè biết. Không ai nói ra. Ai cũng cho cá ăn chiều cho có, rồi khuya cá mới ăn, cám nổi của ông Bảy trôi xuống, người ta coi như không thấy.
"Rồi sao cá ổng chết trắng năm ngoái dì?"
Dì Út không trả lời câu đó. Dì nhìn ra sông một lúc rồi nói sang chuyện khác.
"Ổng quý cây cột đèn lắm. Cột căm xe, ông già ổng đem từ Biển Hồ về, chở theo ghe năm bảy lăm, dựng bè nào cũng đem theo. Ổng nói cột đó đứng được là bè đứng được."
Tôi nghe tới căm xe thì lạnh ở gáy. Tôi không nói với dì về cây cột của tôi. Tôi hỏi, trước khi đi ổng có dặn gì không.
"Bữa chót ổng mua năm bao. Lạ. Ổng toàn mua một bao. Dì hỏi mua chi dữ vậy, ổng nói để dành. Rồi ổng nói, dì Út, tui có đi đâu, dì nhắn giùm, đừng ai dỡ cây cột đèn của tui. Dì tưởng ổng lên Bình Dương với con Thắm... Dì nói ừ."
Tôi nói, cây cột bên bè ổng người ta cưa rồi, còn một khúc ngang gối.
Dì Út nhìn tôi. Nhìn lâu. Rồi dì nói, giọng rất nhỏ:
"Ai cưa?"
Tôi nói tôi không biết. Dì không hỏi nữa, đứng dậy vác bao cám xuống xuồng cho tôi, không lấy tiền bó nhang.
* * *
Tối đó tôi thắp ba cây nhang ở mé lồng, cắm vô cái lon sữa bò, hướng về bè hoang. Hạnh nhìn, không hỏi.
Con chó bè bà Năm đang sủa thì cụp đuôi chui xuống gầm sàn. Đèn bên đó sáng. Rào rào. Chắt chắt.
Nhang của tôi cháy tới nửa cây thì tắt, cả ba cây cùng một lúc, dù không có gió. Khói không bay lên mà đổ ngang mặt nước, kéo một vệt mỏng về phía bè hoang, rồi tan.
Bên kia, tiếng rải cám ngưng một nhịp. Rồi tiếp tục, nhưng tôi có cảm giác chậm hơn. Như người rải đang vừa rải vừa nhìn qua.
Trước khi đèn tắt, tôi nghe một tiếng tằng hắng. Khàn, già, của người hút thuốc lâu năm. Rõ ràng tới mức tôi quay sang nhìn Hạnh, xem cô có nghe không. Hạnh đã vô nhà.
Tiếng tằng hắng đó không phải từ bên bè hoang. Nó ở ngay sau lưng tôi. Ngay chỗ cây cột đèn.