Chương 2: Người dẫn đường đứng ngoài sân
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Việc của chúng tôi ở Nậm Pá đơn giản mà nặng. Tuyến đo là những đường thẳng song song cắt ngang sườn núi, cách nhau một trăm thước. Anh Quý và thằng Dũng đi trước phát tuyến, dao quắm chặt vầu, chặt giang, chặt cả những bụi gai móc vào áo. Anh Lâm đứng máy, tôi cầm mia và ghi sổ. Ông Phủ đi sau cùng, đóng cọc mốc sơn đỏ, lấy mẫu đất bỏ vào túi vải, ghi số bằng bút chì.
Tuyến nào cũng phải đi đến hết, dù trước mặt là vách đá hay khe sâu. Ngày đầu chúng tôi đo được hai tuyến. Tay tôi phồng rộp vì mia, cổ rát vì sương, nhưng vui. Trẻ thì cái gì cũng vui.
Buổi tối, chuyện đôi dép đổi chỗ thành chuyện để trêu nhau. Anh Quý bảo thằng Dũng đêm nằm mơ thấy người yêu, dậy đi lung tung. Anh Lâm uống chén rượu ngô, bảo đi rừng mà sợ ma thì về nhà bán bánh rán.
Ông Phủ ngồi ngoài rìa ánh đèn, không uống. Ông vót một thanh vầu, vót mãi, thanh vầu bé đi mà vẫn vót.
* * *
Sáng hôm sau ông Lử lên sớm, cõng theo gạo, muối và một can dầu hoả. Ông đến khi chúng tôi đang ăn cơm trên hiên. Thằng Dũng gọi lên uống nước.
Ông Lử đứng lại ở mép sân, cách hiên hai bước. Ông nhìn sáu tấm ván pơ mu đen bóng. Ông nhìn cái ngưỡng cửa đục mộng ở tấm ván giữa. Ông không bước thêm.
"Ván này ở đâu ra."
Anh Quý nói trên bản cũ, nhà sập rồi. Ông Lử không nói gì. Ông hạ gùi xuống đất, ngồi lên một tảng đá ở góc sân, rút ống điếu ra. Từ hôm ấy cho đến ngày cuối cùng, ông Lử không bao giờ bước lên hiên lán chúng tôi. Nước chúng tôi mời ông cũng đứng dưới sân mà uống.
Anh Lâm hỏi về bản cũ. Ông Lử trả lời từng câu, như người ta trả tiền lẻ.
"Bỏ từ năm sáu mốt. Năm ấy bản chết nhiều. Chết nhanh."
"Dịch gì hả bác? Tả hay sốt rét?"
"Không biết. Thầy cúng nói ma dịch. Người còn sống thì xuống dưới, gần đường, làm bản mới. Không ai lên lấy cái gì về đâu. Của người trên ấy... để trên ấy."
Ông nhìn lại cái hiên lần nữa. Rồi ông hỏi, giọng không thay đổi:
"Ván nhà ai... các anh biết không?"
Không ai biết. Nhà sập thì là nhà sập, thằng Dũng nói. Ông Lử gật, hút thuốc, không nói thêm.
Lúc ấy ông Phủ từ suối lên. Ông đi ngang chỗ ông Lử ngồi và nói với ông Lử mấy tiếng. Tiếng Mông. Tôi không hiểu, nhưng nghe ra giọng hỏi. Ông Lử ngẩng phắt lên. Ông nhìn ông Phủ từ chân lên đầu, lâu, rồi trả lời cũng mấy tiếng. Ông Phủ gật đầu, đi vào lán.
Tôi hỏi ông Phủ biết tiếng Mông à. Ông bảo đi Tây Bắc ba chục năm, ở với bản nào cũng vài tháng, nghe mãi thì biết, không nhiều.
Trưa ấy, khi chúng tôi ra tuyến, ông Lử đi cùng một đoạn để chỉ chỗ lội suối. Ông đi cạnh tôi. Đến chỗ rẽ ông dừng lại và nói, mắt nhìn đi chỗ khác:
"Ông già ấy... nói tiếng Mông giọng bên này núi."
Tôi hỏi bên này núi là sao. Ông không giải thích. Ông hỏi lại tôi tên ông già là gì. Tôi nói ông Phủ.
"Phủ à."
Ông Lử nói thế, rồi quay về.
* * *
Sáng thứ hai ở bãi, dép anh Lâm và dép thằng Dũng đổi chỗ cho nhau. Đôi quai hậu da nâu nằm ở chỗ ngoài cùng bên phải, chỗ của Dũng. Đôi dép Lào buộc dây thép nằm trong cùng, chỗ anh Lâm. Mũi quay vào lán. Ngay ngắn.
Lần này không ai cười to nữa. Anh Lâm đứng nhìn hàng dép một lúc, rồi nói chắc có con gì, chồn hay cầy, nó tha chơi. Anh Quý nói chồn nào mà xếp lại cho ngay thế này. Anh Lâm không trả lời.
Tối ấy anh Lâm phân công anh Quý thức canh. Quý ngồi ở cửa lán, điếu cày bên cạnh, đèn pin bên kia. Quý bảo canh được hết đêm.
Tôi tỉnh dậy lúc nào không biết. Lán tối, đèn dầu đã tắt. Tiếng ngáy của Quý vọng từ cửa vào, đều và to. Ngoài kia sương xuống dày, tiếng suối nghe xa hơn ban ngày.
Rồi tôi nghe tiếng ấy.
Một tiếng nhẹ, khô, của cái gì bằng nhựa đặt xuống mặt gỗ. Rồi nghỉ. Rồi lại một tiếng. Như người ta đặt dép xuống ván, từng chiếc một, cẩn thận, sợ làm người trong nhà thức giấc.
Tôi nằm im. Tôi nhìn ra chỗ ông Phủ nằm. Chỗ ấy trống. Chăn lật ra.
Bốn tiếng đặt dép, tôi đếm được bốn. Rồi im. Rồi tấm bạt cửa khẽ lay, một luồng hơi lạnh ùa vào, và ông Phủ bước vào lán, cúi đầu tránh xà ngang. Ông đứng một lúc ở cửa, như nghe ngóng. Rồi ông về chỗ, nằm xuống, kéo chăn.
Tôi nhắm mắt. Tôi nói với mình, ông già đi tiểu. Người già đêm hay đi tiểu.
Sáng ra, dép tôi và dép ông Phủ đổi chỗ cho nhau.
Tôi nhìn ông. Ông đang nhóm bếp, lưng quay lại. Tôi định hỏi. Rồi tôi nghĩ đến cái cách ông đổi hai đôi dép về chỗ cũ sáng hôm đầu, chậm, bằng hai tay, như người ta sửa lại một thứ đã bị động vào. Người làm việc ấy không phải là người đi đổi dép của người khác để trêu.
Tôi không hỏi. Anh Lâm thì quyết luôn:
"Từ tối nay đem dép vào trong lán. Để ở đầu giường. Xem nó đổi kiểu gì."
Tối ấy năm đôi dép nằm trong lán, mỗi đôi ở đầu chỗ nằm của chủ nó. Anh Lâm tự tay buộc tấm bạt cửa vào cột, hai nút. Ông Phủ nhìn anh buộc, không nói gì. Ông nằm xuống, quay mặt vào vách.
Sáng ra bạt cửa vẫn buộc hai nút. Dép của tôi nằm ở đầu giường thằng Dũng. Dép thằng Dũng nằm ở đầu giường tôi.
Ở ngoài, trên mặt hiên đẫm sương, cái vệt chân trần nhỏ hôm trước lại hiện ra. Lần này nó không dừng ở chỗ để dép. Nó đi hết chiều dài hiên, đến sát tấm bạt cửa, và dừng ở đó.