☾ Truyện Ma Có Thật
← Ghe khoai lúc sương xuống

Chương 1: Xuồng cà phê bốn giờ

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Tôi tên Diễm. Năm 2014 tôi hai mươi hai tuổi, bán cà phê trên một chiếc xuồng máy nhỏ ở chợ nổi Cái Răng. Ba tôi tên Tấn, người ta kêu ông Tư Tấn. Hai cha con sống trên một chiếc ghe nhà neo trong con rạch nhỏ gần chân cầu Cái Răng, mui ghe lợp tôn, vách ván, có cái bếp than kê trên miếng thiếc ở phía lái.

Má tôi bỏ đi năm tôi tám tuổi. Ba nói má lên Bình Dương làm công ty rồi không về. Tôi chỉ nhớ má có cái nốt ruồi nhỏ dưới mắt trái, y như cái nốt ruồi của tôi bây giờ. Người ta nói tôi giống má. Ba không nói gì, nhưng mỗi lần tôi cột tóc lên, ba hay nhìn qua chỗ khác.

* * *

Bán cà phê trên chợ nổi phải dậy sớm hơn chợ. Trời còn tối mịt tôi đã nhóm bếp than, pha cà phê bằng cái vợt vải ngả màu nâu đen, chế ra mấy cái bình thủy. Lên xuồng còn có thùng xốp đựng đá, chồng ly nhựa và một hộp thiếc đựng tiền lẻ. Hộp thiếc là hộp bánh quy cũ, nắp còn hình mấy bông hồng đã tróc sơn.

Bốn giờ tôi nổ máy, chạy ra khúc sông chợ. Ghe bầu đã neo kín, ghe nào cũng dựng cây bẹo trước mũi treo thứ mình bán. Ai gọi thì tôi ghé, cột ly vô sợi dây đưa lên. Bạn hàng ném tiền xuống, có khi rớt xuống sông, tôi phải lấy vợt vớt.

Tôi thuộc gần hết người buôn bán ở khúc sông này, từ chị Bảy bán hủ tiếu tới ông Tám bán xăng dầu neo gần vàm. Ghe nào lạ, tôi biết liền.

* * *

Năm đó sương xuống sớm. Mới đầu tháng Mười Một âm lịch mà sáng nào sông cũng trắng. Sương sông Hậu không giống sương trên bờ. Nó dày, nặng, ướt, nằm sát mặt nước như một tấm mền bông. Có bữa tôi ngồi ở lái xuồng mà không thấy được mũi xuồng mình. Tiếng máy ghe từ đâu vọng tới, nghe gần mà không biết nằm hướng nào.

Mấy bữa sương dày, tôi tắt máy, cầm chèo bơi từ từ. Ba dặn vậy.

Ba không bao giờ ra sông lúc sương. Hồi tôi còn nhỏ, ba chở tôi đi bán, gặp sương là ba cột ghe ngồi chờ, có khi chờ tới bảy giờ sáng, mất hết mối. Tôi hỏi sao vậy, ba nói ba có tuổi rồi, mắt kém.

Hồi đó ba mới ngoài ba mươi.

* * *

Sáng hôm ấy là ngày mùng bốn tháng Mười Một. Sương dày nhất từ đầu mùa. Tôi bơi xuồng tới giữa chợ thì không thấy gì nữa, chỉ nghe tiếng người ta kêu nhau í ới trong một khối trắng đục. Tôi gác chèo, để xuồng trôi theo con nước, ngồi rót cho mình một ly cà phê đen.

Tôi ngửi thấy mùi khoai trước.

Mùi khoai lang luộc, ngọt, bốc hơi, lẫn mùi rơm cháy. Cái mùi đó nằm giữa mùi dầu máy với mùi bùn, lạc lõng. Tôi quay đầu tìm.

Từ trong sương, một chiếc xuồng ba lá nhỏ trườn tới. Trước mũi xuồng dựng một cây bẹo bằng tre, treo một chùm khoai lang vỏ đỏ. Giữa xuồng có cái nồi đất phủ lá chuối, hơi nóng bốc lên từ kẽ lá. Người chèo ngồi ở lái, một bà cụ đội nón lá, mặc áo bà ba nâu bạc màu, quấn cái khăn rằn quanh cổ.

Bà chèo đều tay. Mái chèo nhấc lên, hạ xuống. Tôi ngồi cách bà chưa tới một sải tay mà không nghe tiếng nước. Không một tiếng lóc bóc nào.

Xuồng bà áp vô mạn xuồng tôi nhẹ như một chiếc lá đậu xuống.

"Mua khoai hông con? Khoai mới luộc, còn nóng."

Giọng bà nhỏ, khàn, nói kiểu người Cần Thơ xưa. Tôi không thấy mặt bà, vành nón che xuống gần tới cằm. Chỉ thấy hai bàn tay bà vịn mạn xuồng, móng tay đen như người mới bới đất.

Tôi nói con lấy năm củ. Bà giở lá chuối, bốc từng củ bỏ vô cái bịch nilon tôi đưa. Củ nào cũng nóng hổi, vỏ nứt, mật khoai chảy ra vàng óng. Tôi cầm bịch khoai, hơi nóng phả vô lòng bàn tay, ấm tới tận cùi chỏ.

Tôi lấy tờ mười ngàn trong hộp thiếc đưa bà. Bà không cầm.

"Thôi, bà không lấy. Bà hỏi con chuyện này."

Tôi đợi. Bà ngẩng lên một chút, nhưng vành nón vẫn che. Tôi chỉ thấy một cái cằm nhăn nheo và một khóe miệng ướt.

"Con buôn bán ở đây... con có thấy con Mỹ hông? Con Mỹ đó. Út của bà. Ở Ba Láng."

Tay tôi cầm bịch khoai khựng lại. Má tôi tên Mỹ. Nhưng ở miền Tây này, đếm trong một cái chợ thôi cũng ra chục người tên Mỹ.

Tôi nói con không biết, bà hỏi thử mấy ghe khác coi. Bà gật đầu, chậm rãi, như đã nghe câu đó nhiều lần rồi. Lúc bà cúi xuống cầm chèo, tôi nhét lẹ tờ mười ngàn vô kẽ lá chuối phủ trên nồi khoai. Tôi không quen lấy không của ai.

Bà đẩy nhẹ mạn xuồng tôi ra. Xuồng bà lùi vô sương, cây bẹo khoai lắc lư, rồi mất hẳn. Tôi ngồi đó một lúc mới sực nhớ, nãy giờ không có tiếng chèo, mà cũng không có vệt nước nào sau đuôi xuồng bà.

* * *

Khoai tôi để trong thùng xốp cho giữ ấm, tính trưa về ăn với ba. Tới trưa thì quên. Bịch khoai nằm trong thùng xốp suốt đêm.

Sáng hôm sau, bếp than vừa đỏ, tôi mở thùng xốp ra lấy đá.

Trong bịch nilon không còn khoai. Chỉ có năm cục đất sét, màu xám xanh, ướt nhẹp, mùi bùn đáy sông xộc lên mũi. Cục nào cũng dài cỡ củ khoai. Cục nào cũng có năm vết lõm, sâu, đều, như ai đó nắm chặt nó trong lòng bàn tay rồi mới thả ra.

Tôi đứng cầm cái bịch, tay lạnh ngắt. Rồi tôi mở hộp thiếc đựng tiền.

Tờ mười ngàn nằm trên cùng, gấp làm tư, ướt sũng, dính một vệt bùn xám.