☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng thưa thứ mười tám

Chương 1: Điểm trường Lủng Chá

Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem

Tháng Chín năm 2005, tôi hai mươi ba tuổi, cầm quyết định của phòng giáo dục huyện Mèo Vạc đi bộ từ trung tâm xã Sủng Pả lên điểm trường Lủng Chá. Sáu cây số đường mòn, qua hai con dốc đá tai mèo, trưởng thôn Vàng Chứ Pó đi trước dẫn đường. Ông đeo giúp tôi bao gạo, còn tôi đeo cái ba lô đựng sách giáo khoa, hai bộ quần áo và một cái đài chạy pin Con Thỏ.

Tôi quê Lâm Thao, Phú Thọ, học xong cao đẳng sư phạm trên thị xã Hà Giang thì xin đi vùng cao. Người ta hỏi sao không xin về xuôi. Tôi nói đi vài năm cho biết. Lúc ấy tôi nghĩ thế thật.

Điểm trường là một gian nhà trình tường, tường đất dày, mái lợp ngói âm dương đã xô lệch nhiều chỗ. Trước cửa có một cái sân đất nện rộng bằng hai cái chiếu, và một cây sa mộc già đứng lệch về bên trái. Trên cành thấp nhất của cây sa mộc treo một cái vành bánh xe công nông, han gỉ, buộc bằng dây thép. Cạnh gốc cây, trên một cái đinh đóng vào thân, treo một khúc gỗ nghiến dài bằng cẳng tay, một đầu bóng lên vì mồ hôi tay.

"Kẻng đấy. Thầy đánh thì bọn trẻ nghe thấy tận bên kia núi."

Ông Pó nói, không nhìn tôi, rồi đẩy cửa lớp.

Bên trong tối và lạnh hơn ngoài sân. Bảy cái bàn gỗ ghép, mỗi bàn một cái ghế dài, kê thành hai dãy. Bảng đen là một tấm ván sơn, sơn đã tróc lộ thớ gỗ. Góc trong cùng ngăn một gian nhỏ bằng phên nứa, có cái giường một, một bếp củi kê ba hòn đá, một cái phích Rạng Đông vỡ nắp. Đấy là chỗ của tôi.

Trên tường, cạnh bảng, còn dán tờ lịch năm 2005. Tờ lịch dừng ở tháng Hai. Không ai xé tiếp.

* * *

Sáng hôm sau tôi dậy từ lúc trời còn tối, nhóm bếp, nấu một nồi cơm, rồi ra sân đứng chờ. Sương đặc như sữa, đứng ở cửa lớp không thấy cây sa mộc. Khoảng bảy giờ, tôi cầm khúc gỗ nghiến gõ vào vành bánh xe ba tiếng. Tiếng kẻng không vang như tôi tưởng. Nó đục, ngắn, bị sương nuốt mất ngay.

Rồi bọn trẻ hiện ra từ trong sương, từng đứa một, không có tiếng động. Áo bông, mũ len, đứa nào cũng đeo một cái túi vải hoặc túi ni lông đựng vở. Dép nhựa, có đứa đi chân đất. Chúng dừng ở mép sân nhìn tôi. Tôi nói xin chào các em, không đứa nào trả lời. Tôi vẫy tay, chúng vào lớp, ngồi đúng chỗ, như đã ngồi chỗ ấy từ lâu lắm rồi.

Tôi đếm được mười bảy đứa. Sổ bàn giao ông Pó đưa cũng ghi mười bảy tên, ba lớp ghép. Lớp một bảy đứa, lớp hai sáu đứa, lớp ba bốn đứa.

Tôi mở sổ điểm danh mới, đọc từng tên. Tiếng Mông tôi phát âm chưa chuẩn, vài đứa cười khúc khích khi tôi đọc sai tên nó.

"Vàng Mí Lử."

"Có ạ."

"Thò Thị Say."

"Có ạ."

Cứ thế. Đến tên cuối cùng là Giàng Thị Pà, lớp ba, ngồi bàn cuối dãy trong. Nó thưa. Tôi gập sổ lại.

Và còn một tiếng thưa nữa.

"Có à."

Nhỏ hơn, khàn hơn, từ phía cửa. Giọng con trai bé, nói chữ ạ thành chữ à như trẻ con Mông vẫn nói.

Tôi ngẩng lên. Mười bảy cái đầu đội mũ len nhìn tôi. Không đứa nào mở miệng. Tôi đếm lại một lượt, chỉ tay vào từng đứa. Mười bảy.

Tôi nghĩ chắc đứa nào thưa chậm. Tôi cười, bảo bạn nào thưa hai lần thế, rồi quay lên bảng viết ngày tháng. Phía sau tôi im như trong hang.

* * *

Đêm ở Lủng Chá tối theo cách người dưới xuôi không hình dung được. Không điện, không trăng, sương bịt kín cửa sổ. Tôi thổi đèn dầu, nằm trong chăn nghe gió lùa qua khe cửa, nghe một con gì gặm mái ngói, rồi ngủ.

Tôi tỉnh vì tiếng kẻng.

Một tiếng. Đục, ngắn, đúng cái âm tôi gõ sáng nay. Nghỉ một lúc. Rồi tiếng thứ hai. Rồi tiếng thứ ba.

Ba tiếng, cách nhau đều, nhỏ, như người đánh kẻng sợ làm ai thức giấc.

Tôi nằm im, tay sờ cái đèn pin dưới gối. Gió không đủ mạnh để làm vành bánh xe đập vào thân cây. Mà nếu là gió thì tiếng phải lạch cạch, không ra nhịp thế này. Tôi bật đèn pin, soi đồng hồ. Ba giờ bốn mươi.

Tôi ra mở cửa. Sương đặc đến mức ánh đèn pin dội lại thành một bức tường trắng, tôi chỉ nhìn được hai bước chân. Tôi đi men theo tường đến gốc sa mộc. Vành bánh xe treo yên, không đung đưa. Khúc gỗ nghiến vẫn ở trên đinh.

Tôi sờ vào. Nó lạnh. Và đầu bóng của nó có một vệt ướt, như vừa có bàn tay nắm vào.

Tôi tự bảo mình sương làm ướt. Cả cái cây đều ướt. Tôi vào lớp, cài then, ngồi trên giường đến sáng.

* * *

Lúc quét lớp buổi sáng, tôi thấy dưới gầm bàn cuối dãy ngoài, sát cửa, chỗ một con bé quấn khăn đỏ ngồi một mình, có một đôi dép.

Dép nhựa màu xanh lá, loại bán ở chợ phiên, quai đã sờn. Nhỏ lắm, chỉ vừa chân đứa trẻ sáu bảy tuổi. Hai chiếc để sát nhau, ngay ngắn, mũi dép quay vào trong như ai cởi ra trước khi bước vào lớp. Tôi cầm lên. Đế dép ướt, dính vài hạt đất đỏ.

Tôi nghĩ của đứa nào bỏ quên hôm qua. Tôi để đôi dép lên bậc cửa cho dễ thấy.

Bảy giờ tôi đánh kẻng. Bọn trẻ hiện ra trong sương. Mười bảy đứa, tôi đếm hai lần. Đứa nào cũng có dép hoặc chân đất, không đứa nào cúi xuống nhặt đôi dép xanh. Chúng bước qua nó.

Tôi điểm danh. Đến tên Giàng Thị Pà, nó thưa.

Tôi không gập sổ. Tôi đợi.

"Có à."