Chương 12: Tiếng thưa mới
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Tôi gọi tên nó mỗi sáng từ hôm ấy.
Không phải theo cách tôi tưởng lúc đầu. Tôi đọc tên nó ở hàng thứ nhất, nó không thưa, tôi biết rồi. Tôi đọc mười bảy tên. Rồi tôi nói hết rồi. Rồi nó thưa.
Rồi tôi nói to, nhìn thẳng vào chỗ nó, Vàng Mí Sính có mặt, và tôi chấm vào sổ. Ngày nào cũng vậy. Mười tám tên, mười tám tiếng thưa, một dấu chấm.
Nó không về nhà. Ông Pó nói đúng. Nhưng nó cũng không ngồi ngoài bậc cửa nữa.
Từ đêm ấy, bốn giờ sáng kẻng kêu ba tiếng, tôi dậy, mở toang cửa lớp, nhóm lửa, rồi về buồng nằm. Tôi không nhìn ra. Tôi nghe tiếng chân trần đi qua bậc cửa, vào lớp, đến bàn cuối, ngồi xuống. Sáng ra chỗ khô không còn ở bậc đá. Nó ở đầu ghế dài bàn cuối, cạnh chỗ Chở ngồi, một khoảng gỗ khô và lạnh giữa mặt ghế ướt sương.
Chở không chừa chỗ nữa. Nó ngồi sát vào, vai bên trái hơi so lên, như ngồi cạnh một cái gì rất lạnh mà không muốn dịch ra.
* * *
Những việc còn lại tôi kể nhanh, vì chúng dài mà không có gì để nói.
Tháng Ba năm 2006, tôi nhận được thư từ Chiêm Hoá. Chữ của một bà cụ, nhờ người viết hộ. Thầy Thiện mất tháng Tám năm 2005, trước khi tôi lên Lủng Chá một tháng. Bà viết: nó về nhà không ốm gì, chỉ không ngủ, đêm nào cũng dậy lúc bốn giờ ra sân đứng. Một sáng tháng Tám nó nằm xuống rồi không dậy, người lạnh như mùa đông.
Bà hỏi tôi có biết nó mắc nợ ai trên ấy không, để bà trả. Tôi không viết lại. Tôi không biết viết gì.
Mùi thuốc lào trong lớp tôi còn ngửi thấy vài lần nữa, luôn vào những đêm sương muối, rồi hết hẳn sau mùa rét ấy. Tôi không biết ông ấy đã trả được chưa.
Tôi đưa ông Dìn xuống xã làm giấy khai sinh cho Sính. Cán bộ bảo người chết rồi không khai sinh được. Tôi xin một tờ xác nhận có đứa trẻ tên Vàng Mí Sính, sinh năm 1998, mất năm 2005, ở Lũng Sủi. Người ta đóng dấu cho. Tôi kẹp tờ giấy ấy vào sổ điểm danh, sau hàng thứ nhất.
Chở học hết lớp ba ở Lủng Chá, xuống xã học nội trú, hết lớp chín thì lấy chồng bên Yên Minh. Trước khi đi nó lên lớp, đứng ở bậc cửa một lúc, rồi hỏi tôi:
"Thầy còn gọi tên nó không."
Tôi nói còn. Nó gật, rồi đi. Từ đấy mỗi Tết nó gửi một gói bánh dày, không có thư.
Ông Pó mất năm 2016. Hôm tôi đến viếng, con trai ông đưa tôi một cái điếu cày thân nứa đã lên nước đen, bảo bố dặn đưa thầy. Tôi treo nó ở góc lớp. Không ai hút.
* * *
Điện về Lủng Chá năm 2009. Lớp xây lại bằng gạch năm 2013, mái tôn, cửa sắt, có bảng từ, có chuông điện. Tôi xin giữ cây sa mộc và cái kẻng. Người ta cười, bảo thầy hoài cổ. Tôi để họ cười.
Phòng giáo dục ba lần ra quyết định chuyển tôi về trường chính. Ba lần tôi xin ở lại. Lần thứ ba, trưởng phòng hỏi thẳng, anh có vướng gì trên ấy không. Tôi nói có một học sinh tôi chưa dạy xong. Ông ấy nhìn tôi như nhìn người dở hơi, rồi ký cho ở.
Tôi không lấy vợ. Không hẳn vì chuyện này. Nhưng cũng vì chuyện này. Tôi không hình dung được ai nằm cạnh tôi mà bốn giờ sáng tôi dậy mở cửa lớp, nhóm lửa, rồi quay vào nằm không giải thích.
Bọn trẻ bây giờ ít hơn, mười lăm đứa, bố mẹ chúng là Lử, là Say, là Dế ngày xưa. Chúng biết. Trẻ con ở Lủng Chá đứa nào cũng biết, trước cả khi vào lớp một. Điểm danh xong thầy nói hết rồi, có một bạn thưa, thầy chấm, xong thì học. Không đứa nào hỏi. Không đứa nào cười.
Mười tám năm như thế. Tôi tưởng đã xong phần của tôi.
* * *
Mùa rét năm nay, sương muối về sớm.
Lũng Sủi có thêm một hộ mới dọn đến, từ bên Xín Cái sang, làm nương thuê. Có một đứa con gái sáu tuổi. Tôi sang vận động, bố nó bảo chưa có giấy khai sinh, sang năm. Tôi nói chưa có giấy thì ngồi nhờ, cứ cho đi. Bố nó cười, rót rượu. Tôi về.
Hôm sau tôi thấy con bé đứng ở rào đá cuối sân, nhìn vào lớp, đội cái mũ len đỏ. Nó đứng đến trưa rồi về.
Tôi định sang lần nữa. Rồi rét về, tôi đi báo nghỉ hai mươi sáu nóc nhà Lủng Chá, đi cả ngày. Lũng Sủi tôi nhờ con trai ông Pó sang. Nó bảo đã sang.
Sáng nay bốn giờ, kẻng kêu ba tiếng. Tiếng cao, mảnh, của gỗ đào. Tôi dậy mở cửa, nhóm lửa, nằm lại. Tiếng chân vào bàn cuối. Mọi thứ như mười tám năm.
Bảy giờ, trời ấm lên một chút, tôi đánh kẻng ba hồi dài. Mười lăm đứa đến, đủ. Tôi mở sổ.
"Vàng Mí Sính."
Im lặng. Mười lăm tên. Có ạ, có ạ. Tôi nói hết rồi.
"Có à."
Từ bàn cuối. Tôi cầm bút định chấm.
"Có à."
Tiếng thứ hai. Không phải từ bàn cuối. Từ bậc cửa. Nhỏ hơn. Cao hơn. Giọng con gái.
Tôi ngẩng lên. Mười lăm đứa trẻ nhìn tôi. Không đứa nào mở miệng. Tôi đếm. Mười lăm.
Tôi nhìn ra bậc cửa. Sương muối đã tan hết trên hiên, đá ướt đen. Trừ một chỗ nhỏ ở góc bậc. Khô. Bằng một đứa trẻ ngồi co, bé hơn chỗ ngày xưa.
Tôi đặt bút xuống. Tôi lấy áo bông. Tôi bảo bọn trẻ ngồi yên, Dế lớn nhất trông lớp. Tôi đi ra cửa, bước qua chỗ khô, xuống sân, và bắt đầu chạy về phía dốc Sủi.
Sau lưng tôi, kẻng kêu một tiếng.
Không phải tiếng gỗ nghiến. Không phải tiếng gỗ đào. Một tiếng khác, nhỏ hơn nữa, lệch nhịp, như của một bàn tay chưa biết cầm dùi.