Chương 1: Chuyến xe về Chiêm Hoá
Khoảng 5 phút đọc·10lượt xem
Tháng Mười năm 2001 tôi về bản sau ba năm đi lấy chồng. Nhà chồng tôi ở Kiến Xương, Thái Bình, đất phẳng như cái mâm, đứng ngoài đồng nhìn được tận chân trời. Bản tôi thì ngược lại. Bản Nà Pồng nằm trong một cái lòng chảo nhỏ của xã Phúc Sơn, huyện Chiêm Hoá, bốn bề là núi đá và rừng vầu, mặt trời lên muộn, lặn sớm.
Tôi về một mình. Chồng tôi là Toàn, đang vụ gặt, không đi được. Tôi có mang được ba tháng. Tôi muốn về báo cho mẹ, muốn ăn bát canh măng chua mẹ nấu, muốn nằm lại cái sàn nứa đã nằm mười lăm năm. Ba năm qua mẹ chỉ gửi cho tôi hai lá thư, lá nào cũng ngắn, lá nào cũng dặn một câu: con đừng về, đường xa, mẹ vẫn khoẻ.
Tôi không nghe. Tôi bắt xe khách từ Thái Bình lên Hà Nội, từ Hà Nội đi Chiêm Hoá. Xe hỏng ở dốc Tân Mỹ, đến huyện thì đã quá trưa. Từ huyện vào xã còn hai mươi cây số đường đất đỏ, tôi đi nhờ xe công nông của một người buôn trâu. Từ xã vào bản thì đi bộ.
* * *
Mẹ đang ngồi chẻ lạt ở chân cầu thang. Nhìn thấy tôi đứng ở đầu ngõ, mẹ buông con dao, đứng bật dậy. Tôi tưởng mẹ sẽ chạy ra. Mẹ không chạy. Mẹ đứng yên nhìn tôi, nhìn lên trời, rồi nhìn về phía rặng núi đằng tây, nơi mặt trời đã chạm vào đỉnh đá.
Câu đầu tiên mẹ nói với tôi sau ba năm là:
"Sao lại về muộn thế này."
Không phải câu hỏi. Mẹ nói như người tính nhẩm trong đầu một việc gì đã lỡ.
Mẹ cầm cái túi du lịch của tôi, đi trước lên cầu thang. Đến bậc thứ ba mẹ dừng lại, quay xuống, hỏi tôi định ở mấy hôm. Tôi nói một tuần. Mẹ im một lúc lâu. Rồi mẹ nói, ngày mai mẹ nhờ người đưa con ra xã.
Tôi tưởng mẹ giận vì tôi không nghe lời.
* * *
Nhà tôi là nhà sàn bốn gian, cột gỗ nghiến, mái lợp ngói máng, đầu hồi phía đông nhìn thẳng ra ngõ. Ngõ nhà tôi là một con đường đất hẹp, hai bên rào nứa, chạy từ bãi trâu đầu bản lên tận chân đồi. Cuối ngõ có một cái khe nhỏ, người ta gọi là khe Nặm Đăm, nước trong và lạnh quanh năm. Hồi bé tôi xuống đó gánh nước, mẹ chỉ cho đi lúc trời còn sáng.
Bữa tối có cá suối nướng, canh rau dớn, xôi nếp nương. Mẹ gắp cho tôi rất nhiều, nhưng mẹ không ăn. Mẹ ngồi nghiêng người, quay mặt ra cửa sổ. Ngoài kia trời tối nhanh như có ai kéo màn.
Đang ăn thì tôi ra sàn phơi rửa tay. Lúc tôi còn đứng ngoài đó, mẹ muốn gọi tôi vào. Tôi nghe tiếng mẹ vỗ tay. Hai tiếng, khô, gọn. Tôi quay lại, thấy mẹ đứng ở cửa vẫy.
Tôi nhớ ra cái lệ ấy. Hồi nhỏ trong bản, tối đến người ta không gọi tên nhau. Muốn gọi con về thì vỗ tay, gõ vào cột nhà, hoặc đi ra tận nơi kéo tay. Người lớn bảo trẻ con cứ thế mà làm, không giải thích. Tôi đi học ở thị xã từ năm mười lăm tuổi, rồi xuống Hà Nội làm may, rồi lấy chồng dưới xuôi. Mười năm không ở bản, tôi quên mất cái lệ ấy như người ta quên một câu đồng dao.
Tôi cười, bảo mẹ, con chứ có phải ai đâu mà mẹ phải vỗ tay.
Mẹ không cười. Mẹ nói:
"Ở đây thì theo lệ ở đây."
* * *
Mẹ trải chiếu cho tôi ở gian trong, sát vách buồng mẹ. Mẹ để một cái đèn dầu cháy nhỏ ở đầu chiếu, dặn tôi đừng thổi tắt. Bếp lửa giữa sàn mẹ vùi thêm mấy khúc củi nghiến cho cháy âm ỉ đến sáng. Rồi mẹ đi cài cửa. Cửa trước một then, cửa sau một then. Mẹ cài xong, đi một vòng, cài lại cả hai.
Tôi nằm nghe tiếng bản về đêm. Tiếng chó sủa xa xa. Tiếng ếch dưới ruộng bậc thang. Tiếng gió lùa qua rừng vầu sau nhà, kẽo kẹt như ai đang khép mở một cánh cửa rất lớn. Mùi khói củi, mùi chăn chiên cũ, mùi lá ngải mẹ treo ở cửa. Đó là những thứ tôi đã nhớ suốt ba năm. Tôi ngủ thiếp đi.
Tôi tỉnh dậy vì tiếng gà.
Con gà trống nhà tôi nhốt dưới gầm sàn, ngay dưới chỗ tôi nằm. Nó gáy một hồi dài, khàn. Rồi gà nhà bên gáy. Rồi cả bản gáy theo, lan từ đầu bản xuống cuối bản. Tôi biết đó là gà gáy canh ba, vì trời còn tối đặc.
Rồi tất cả im bặt.
Không phải cái im bình thường của đêm. Chó thôi sủa. Ếch thôi kêu. Đến cả tiếng gió trong rừng vầu cũng như có ai giữ lại. Bản Nà Pồng im như một cái chum úp.
Trong cái im ấy, tôi nghe thấy một tiếng khác.
Lốc cốc. Lốc cốc.
Tiếng mõ tre. Loại mõ người ta đeo cổ trâu để thả trên đồi, đi đến đâu kêu đến đấy. Tiếng ấy từ cuối ngõ vọng lên, chỗ khe Nặm Đăm. Chậm, đều, theo nhịp bước chân. Mỗi lúc một gần.
Tôi nghĩ, trâu nhà ai sổng chuồng. Nhưng tiếng mõ trâu tôi nghe từ bé, nó nặng và trầm. Cái mõ này nhỏ. Tiếng nó cao và mỏng, như mõ của một con nghé. Và tôi không nghe tiếng chân trâu. Không có tiếng móng đạp đất, không có tiếng thở phì phì. Chỉ có tiếng mõ, đi lên ngõ một mình.
Tôi nằm im, mắt mở trừng nhìn ngọn đèn dầu. Ngọn lửa đứng thẳng, không lay.
Lốc cốc. Lốc cốc.
Tiếng mõ đi qua nhà bác Nhình đầu ngõ. Qua cái cối giã gạo bên rào.
Rồi nó dừng lại. Ngay trước cổng nhà tôi.
Tôi chờ nó đi tiếp. Nó không đi. Bên kia vách, tôi nghe tiếng mẹ trở mình, rồi thôi. Tôi biết mẹ cũng đang thức. Mẹ không gọi tôi. Mẹ không đứng dậy. Hai mẹ con nằm cách nhau một tấm vách nứa, cùng thở thật khẽ, cùng nghe một thứ đang đứng dưới cổng, rất lâu, không động đậy, như đang chờ ai trong nhà lên tiếng trước.