☾ Truyện Ma Có Thật
← Mẹ chồng về trong mộng

Chương 12: Đôi dép gót chạm gót

Khoảng 5 phút đọc·3lượt xem

Tôi không đưa.

Anh Toàn chìa tay thêm một lúc rồi hạ xuống. Tôi đi qua anh, ra gian giữa, cúi nhặt đôi dép tổ ong của mẹ ở chân ban thờ. Từ hôm nó tự về, không ai dám ném nó đi nữa.

Tôi lật từng chiếc dưới bóng đèn. Chiếc bên trái, chỗ quai cắm vào đế, có một đường nhựa chảy nhăn nhúm, đen sém. Quai ấy đã đứt, rồi được ai hơ bật lửa dí lại cho liền. Người làng tôi dép đứt quai đều chữa thế.

Tôi giơ chiếc dép lên. Anh Toàn nhìn nó rồi ngồi sụp xuống bậc cửa, như người bị rút mất xương.

* * *

Anh kể đến lúc trời sáng hẳn. Tôi ngồi nghe, cái chìa khoá vẫn nắm trong tay.

Trước trận chung kết, anh nợ người đi xe Dream một khoản anh làm cả đời không trả nổi. Anh dồn hết vào cửa Đức để gỡ một lần, hứa thua thì có sổ đỏ. Mẹ ra gốc gạo gọi anh về. Bà về trước, anh hút hết điếu thuốc rồi theo ra cầu ao. Bà ngồi bậc dưới cùng rửa chân, anh đứng bậc trên xin lần cuối. Bà giơ cổ tay trái lên.

"U bảo: đứa nào muốn thì chặt tay tôi mà lấy. Anh không chặt. Anh chỉ giật."

Anh nắm cổ tay mẹ mà giật. Mẹ cào một đường vào cằm anh. Sợi chun căng ra rồi đứt, quai dép trái đứt theo. Mẹ ngửa người, chân trượt trên bậc rêu, đầu đập vào cạnh gạch một tiếng, rồi chìm.

"Anh đứng đấy, cầm cái chìa. Anh đứng nhìn đến lúc mặt nước phẳng lại."

Lúc anh nhảy xuống thì đã muộn. Anh mò trong tối, đến gốc tre thì chạm vào áo mẹ. Mẹ không thở nữa. Anh để mẹ ở đấy, lên bờ, hơ bật lửa hàn lại quai dép, đặt đôi dép lên bậc thứ hai, gót chạm gót, mũi quay vào nhà, như mẹ vẫn đặt mỗi tối. Anh vào buồng mẹ mở tráp, lấy sổ đỏ, khoá lại. Rồi anh nằm xuống cạnh tôi.

Sáng hôm sau anh đi thẳng ra gốc tre vì anh biết mẹ nằm đấy. Cái áo đỏ dính bùn ao, mấy hôm sau anh đem đốt.

"Đêm cái Bống ra bãi đất, anh theo đến bờ thì không bước xuống được. Như có ai giữ chân."

Còn cái chìa, anh ném xuống ao hôm đổ chuyến đất đầu tiên. Đêm qua tỉnh dậy, nó nằm trong tay anh, ướt.

* * *

Sáng ấy tôi gửi Bống sang bà Nhỡ, gọi điện cho cô Huệ. Ba người lên công an huyện. Anh Toàn tự đạp xe đi trước, không ai bảo.

Tôi ngồi trước một anh cán bộ trẻ, đặt lên bàn cái chìa khoá, đoạn chun đứt và đôi dép. Tôi nói tôi khai sai.

"Đêm ấy em có tỉnh dậy, chồng em nằm cạnh em thật. Nhưng tóc anh ấy ướt, tanh mùi nước ao. Mà bể nhà em cạn từ tháng Năm."

Anh cán bộ ghi lại từng chữ. Anh bảo chị ngủ thì chị nói theo cái chị biết, không thành tội. Rồi anh thêm một câu, không nhìn tôi:

"Giá chị nói sớm hơn."

Người ta lấy tờ biên nhận dưới hộp đồ ở hiệu. Ông Khiêm lên kể chuyện gốc gạo. Bà Nhỡ kể tối hôm ấy mẹ sang gọi nhờ máy. Cô Huệ kể cuộc gọi. Đầu năm sau, toà huyện xử anh Toàn tội vô ý làm chết người và không cứu giúp người bị nạn, sáu năm tù. Anh không kháng cáo.

Trong trại, anh ký giấy nhường phần đất của mình cho cái Bống. Cô Huệ ký theo. Mảnh đất có cái ao cũ mang tên con bé, đúng như mẹ nói trong bữa cơm năm nào. Tôi làm đơn ly hôn năm thứ hai anh ở trong ấy. Anh ký, không viết thêm gì.

* * *

Đêm sau hôm tôi ký biên bản ở huyện, mẹ về lần cuối.

Cái ao vẫn còn trong giấc mơ ấy, cầu ao đủ bốn bậc. Mẹ khô ráo, mặc áo nâu, tóc búi gọn, ngồi bậc dưới cùng rửa chồng bát. Rửa xong bà vẩy bát, cơm thừa rơi lả tả, cá rô nổi lên rỉa. Bà không kêu lạnh, không giơ tay chỉ.

Bà xỏ dép, đi lên từng bậc, đi ngang qua tôi vào nhà. Lúc đi qua, bà đặt tay lên vai tôi một cái, nhẹ, khô và ấm. Tôi quay lại nhìn theo được. Sau lưng tôi không có ai cả.

Từ đêm ấy mẹ không về nữa. Mùa xuân năm sau, cái vệt đất trống trên nền ao cũ mọc kín cỏ gà.

* * *

Bây giờ là năm thứ mười sáu kể từ đêm ấy.

Tôi vẫn ở thôn Bãi Thượng với ba gian nhà ngói và cái bể nước mưa. Giỗ mẹ, cô Huệ về làm cỗ ở nhà tôi như trước. Cái tráp sơn then nằm trong hòm tôn, khoá bằng chính cái chìa toà trả lại, trong có sổ đỏ tên cái Bống.

Anh Toàn ra trại năm 2014, không về làng. Anh mở hiệu sửa xe ở một thị trấn bên kia sông, sống một mình, tóc bạc trắng. Giỗ mẹ, anh không vào nhà. Anh đứng ở gốc gạo đầu đê thắp một nén hương rồi đạp xe về. Cái Bống lớn lên, mỗi năm sang thăm bố một lần. Tôi không cấm.

Bống năm nay hai mươi mốt tuổi, học năm cuối ở Hà Nội. Nó không nhớ gì về bà nội, không nhớ đêm đứng giữa bãi đất.

Chỉ có một thói quen nó giữ từ hồi năm tuổi. Tối nào trước khi đi ngủ, nó cũng đặt đôi dép của mình trước cửa buồng, hai chiếc cạnh nhau, gót chạm gót, mũi quay vào nhà. Ở ký túc xá, bạn cùng phòng trêu mãi nó vẫn không bỏ. Tôi hỏi ai dạy con thế, nó cười.

"Bà dạy con mà, mẹ quên à."

Tôi chưa bao giờ kể với nó mẹ chồng tôi đặt dép thế nào.