Chương 3: Phiên canh đêm thứ hai
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Bố mẹ tôi về tối hôm thứ hai. Xe khách từ Quảng Ninh về nhỡ chuyến phà nên gần chín giờ mới đến cổng. Mẹ tôi quỳ xuống đầu quan tài khóc gọi bà. Bố tôi đứng cứng như cột, mặt sạm bụi than, mãi mới cúi xuống được. Người làng kéo đến đông hơn. Kèn trống nổi lại.
Cụ Thạo kéo bố tôi ra rạp nói chuyện con mèo. Bố tôi nghe, gật, bảo chú Toản tối nay phải canh gắt hơn. Nhưng ai cũng đã hai đêm không ngủ. Mắt chú Toản đỏ ngầu, thím Nhàn vừa rót nước vừa gà gật. Bố mẹ tôi đi xe cả ngày, mẹ khóc đến khản tiếng, nằm vật ở chõng gian bên. Phiên canh đêm thứ hai vẫn chia như đêm trước, bố tôi nhận phiên cuối thay ông Khải.
Chiều hôm ấy con mèo đã lên nóc nhà. Nó ngồi trên nóc bếp, nhìn xuống sân, dưới nắng tắt dần. Trẻ con trong xóm ném đá lên mái, nó không đi, chỉ dịch chỗ. Đến tối nó biến mất, và việc nó biến mất làm người ta lo hơn là lúc còn thấy nó.
* * *
Hết phiên thím Nhàn, chú Toản lay tôi dậy. Tôi lại ra ngồi cái ghế con cạnh quan tài. Đêm thứ hai lạnh hơn đêm trước, gió bấc về, tấm bạt rạp kêu phành phạch. Nến đã hết, chỉ còn ngọn đèn dầu trên đầu quan tài, ngọn lửa nhỏ bằng hạt đỗ, cháy rất thẳng, như không có gió.
Chú Toản ngồi được nửa tiếng thì bảo ra ngoài đi giải. Chú cầm đèn pin đi ra hiên. Rồi tôi nghe tiếng chú ngồi xuống cái chõng ngoài rạp, tiếng điếu cày rít, rồi im. Tôi biết chú ngủ. Tôi không gọi. Tôi nghĩ mình thức được.
Tôi ngồi nhìn ngọn đèn. Tôi đếm hơi thở để khỏi nghĩ về bà nằm trong cái hộp gỗ cách tôi một cánh tay. Tôi nhớ bà bảo mày phải thức. Tôi nhớ răng bà đen, miệng bà đỏ trầu, tay bà gầy đưa go dệt chiếu. Tôi thấy mắt mình nóng lên.
Rồi tôi nghe tiếng cối trầu.
Cạch. Cạch. Cạch.
Từ buồng bà, đều, chậm, đúng nhịp tôi vẫn giã. Lần này không phải một tiếng. Nó kéo dài, cạch, cạch, cạch, như người ngồi giã cả một cối trầu to. Tôi muốn đứng dậy. Hai chân tôi không nhấc được.
Tiếng giã đều đến nỗi tai tôi không còn nghe nó là tiếng động nữa. Nó thành nhịp, như tiếng võng, như tiếng mưa dầm. Mí mắt tôi nặng xuống.
Tôi nhớ mình còn nghĩ, chỉ nhắm một lát. Bà ơi, chỉ một lát.
* * *
Tôi tỉnh dậy vì một thứ gì đè lên ngực.
Không nặng. Nhưng lạnh. Cái lạnh thấm qua áo len, qua da, vào tới giữa lồng ngực, như có ai đặt lên đó một hòn đá lấy từ đáy ao. Tôi mở mắt.
Con mèo ngồi trên ngực tôi.
Tôi không biết nó ngồi từ bao giờ. Tôi ngủ ngồi, đầu ngả vào cột, và nó ở đó, bốn chân thu lại, cái chân trắng đặt ngay dưới cổ tôi. Mặt nó cách mặt tôi một gang. Mắt nó không xanh như lúc bắt đèn pin, mà vàng đục, con ngươi mở to đến mức chiếm hết. Nó không chớp. Nó nhìn thẳng vào tôi, và tôi có cảm giác nó không nhìn mặt tôi. Nó nhìn vào chỗ nó đang ngồi.
Tôi không thở. Không phải vì tôi nín. Vì tôi quên.
Nó ngồi như vậy rất lâu. Rồi nó đứng dậy, nhẹ như không có cân nặng, nhảy xuống đất không một tiếng động, đi thẳng ra cửa. Đi, chứ không lùi. Đến bậc cửa nó dừng, ngoảnh lại nhìn tôi một lần nữa, rồi khuất vào đêm.
Tôi ngồi cứng đến khi thở lại được. Rồi tôi nhìn quan tài.
Tấm vải điều phẳng phiu. Nắp gỗ nguyên chốt. Không có gì xô lệch. Nhưng ngọn đèn dầu trên đầu quan tài đã tắt. Bấc đèn còn một sợi khói mảnh bay thẳng lên.
Tôi run tay châm lại bằng bao diêm trong túi. Diêm gãy hai que. Que thứ ba bén. Ngọn lửa lên, nhỏ bằng hạt đỗ, cháy rất thẳng.
Tôi không gọi chú Toản. Tôi không nói với ai. Tôi mười hai tuổi, tôi vừa ngủ gật trong phiên canh của bà, tôi để đèn tắt, và tôi để con mèo ấy vào nhà. Nếu tôi nói ra, cả làng sẽ biết thằng cháu đích tôn ngủ quên. Tôi ngồi thẳng, hai tay kẹp giữa đùi, nhìn ngọn đèn cho tới lúc bố tôi vào đổi phiên. Bố hỏi có gì không. Tôi lắc đầu.
Sáng ra, mọi người xúm lại xem quan tài. Nắp yên, chốt yên, vải yên. Cụ Thạo đi quanh một vòng, cúi nhìn vôi bột rắc dưới chân giường. Vôi không có dấu chân. Cụ thở ra, bảo được rồi.
Ai cũng thở ra. Thím Nhàn bảo thế mà cứ lo. Chú Toản bảo đêm qua chú thức cả đêm không thấy gì. Tôi không nhìn chú.
* * *
Mười giờ sáng động quan. Phường đòn tám người luồn đòn khiêng, kèn trống rộ lên, bố tôi chống gậy vông đi lùi trước quan tài, mẹ tôi được hai người dìu. Tôi đi sau bố, khăn xô kéo xuống tận mắt.
Lúc quan tài ra đến sân, con Vện từ gầm chõng lao ra.
Nó không lao về phía quan tài. Nó dừng trước mặt tôi, cách hai bước, lông gáy dựng, răng nhe, gầm gừ trong cổ. Nó nhìn tôi như nhìn người lạ vào nhà. Chú Toản quát, đá nó một cái, nó kêu ăng ẳng chạy ra sau bếp. Nhưng đến góc bếp nó quay lại, vẫn gầm gừ, vẫn nhìn tôi.
Người ta bảo chó nhà có tang hay dở người. Tôi bước theo quan tài ra cổng. Tôi không quay lại. Nhưng suốt đoạn đường ra cánh đồng Mả Vôi, tôi nghe con Vện tru lên từng hồi sau lưng, và lần nào tôi cũng thấy tiếng tru ấy hướng về phía mình.