☾ Truyện Ma Có Thật
← Nắm tóc cột chỉ đỏ

Chương 1: Khách cuối buổi chiều

Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem

Tiệm của tôi nằm ở đầu chợ thị trấn Tiểu Cần, trên con đường ra xã Hiếu Tử. Gọi là tiệm cho sang, thật ra là cái chái nhà đằng trước, lợp tôn, vách ván, mở ra mặt đường. Trong tiệm có ba cái ghế sắt sơn đỏ đã tróc, một tấm gương dài nứt một góc, một cái kệ để tông-đơ, kéo, lược, lọ phấn rôm. Cái radio cũ trên kệ suốt ngày mở đài tiếng Khmer của tỉnh.

Sau tấm màn vải hoa là nhà trong. Mế tôi ở đó.

Mế tôi bán cốm dẹp và bánh gừng ở cái bàn nhỏ ngay trước cửa tiệm. Sáng bà ngồi đó, chiều bà ngồi đó. Khách tới hớt tóc thì mua thêm gói cốm về cho con. Người trong sóc gọi tiệm là tiệm thằng Phên, gọi Mế là bà Sà Ri bán cốm. Tôi tên Thạch Sô Phên. Năm 2013 tôi ba mươi hai tuổi, chưa vợ, đã đứng tiệm được mười năm.

Mười năm cầm kéo, tay tôi chưa từng run.

* * *

Hôm đó là cuối tháng Ba, giáp Tết Chôl Chnăm Thmây. Trời nóng từ sáng tới chiều không có một cơn gió. Khách đông vì ai cũng muốn hớt tóc gọn để đi chùa ăn Tết. Tới năm giờ chiều tôi mới ngồi xuống được, uống một ly nước đá, định dọn tiệm.

Người khách đó bước vô lúc ấy.

Một người đàn ông ốm, cỡ năm mươi, mặc áo sơ mi trắng cũ, cổ áo sờn. Quần tây xám. Đi dép nhựa. Ông không chào, chỉ đứng ở cửa nhìn quanh tiệm một vòng, chậm, như người tìm lại chỗ quen. Rồi ông ngồi vào cái ghế giữa, cái ghế ngay trước khúc gương nứt.

"Cạo sát gáy. Trên để vậy."

Ông nói tiếng Việt, giọng không ra miền nào. Tôi quàng khăn cho ông, lấy bình xịt nước xịt lên tóc. Tóc ông thưa, ngắn, đen pha muối tiêu, kiểu tóc mới hớt chừng ba tuần. Cạo gáy thì nhanh thôi. Tôi cầm tông-đơ.

Tôi để ý chuyện thứ nhất lúc đó. Ông không nhìn vô gương để coi tôi hớt. Ông nhìn qua gương, nhìn chéo về phía sau lưng mình, về tấm màn vải hoa. Mắt ông đứng yên ở đó. Tôi nghiêng người che, mắt ông lách qua vai tôi mà nhìn tiếp.

Tôi nghĩ ông nhìn Mế. Lúc đó Mế đã dọn bàn cốm vô, đang lụi cụi sau tấm màn, bóng bà in lên vải.

Tôi cạo gáy cho ông, đi lưỡi dao lam một lượt cho sạch chân tóc. Da gáy ông lạnh. Không phải mát, mà lạnh, như da người vừa ngâm nước giếng. Trời nóng như vậy mà cổ ông không có một giọt mồ hôi.

"Xong rồi chú."

Ông đứng dậy, không soi gương. Ông móc túi áo đưa tôi tờ hai chục, đúng giá, rồi đặt một vật gì lên mặt bàn kê dưới gương, chỗ tôi để lược. Ông đi ra. Tôi nghe tiếng dép nhựa của ông lẹp xẹp trên đường chừng mười bước, rồi mất hẳn, dù con đường đó ban chiều thẳng tưng, nhìn xa được cả trăm thước.

Tôi bước ra cửa. Không thấy ai.

* * *

Trên mặt bàn là một nắm tóc.

Nắm tóc dài cỡ một gang tay, to bằng ngón cái, đen lẫn sợi bạc, cột chặt ở giữa bằng một sợi chỉ đỏ quấn nhiều vòng. Tóc khô, thẳng, chải gọn, như người ta để dành lâu ngày. Tôi cầm lên. Nó nhẹ hều mà lạnh tay, cái lạnh giống hệt da gáy ông khách.

Tôi đứng đó nghĩ. Tóc ông ngắn, tôi vừa cạo, rơi đầy dưới ghế còn chưa quét. Nắm tóc này dài gấp mấy lần tóc ông. Nó không phải tóc ông vừa hớt.

"Phên. Cái gì đó?"

Mế đứng ở tấm màn. Tôi không nghe bà bước ra. Tôi giơ nắm tóc lên, nói ông khách bỏ quên.

Mặt Mế thay đổi. Tôi không biết tả sao cho đúng. Không phải sợ. Giống người đang đi chợ bỗng gặp lại một người mình tưởng đã chết. Môi bà mím lại, hai tay bà nắm chặt mép tấm màn.

"Bỏ đi. Đem ra sông thả."

Tôi nói để mai ông quay lại kiếm thì sao. Mế không nói gì nữa. Bà đứng nhìn nắm tóc trong tay tôi một lúc lâu, rồi quay vô. Tối đó bà không ăn cơm, bà nói đau bụng.

Tôi không đem ra sông. Tôi mệt, trời đã tối, và tôi nghĩ người ta bỏ quên thì người ta quay lại. Tôi bỏ nắm tóc vô hộc bàn, chung với mấy lưỡi dao lam mới. Rồi tôi quét tiệm, đóng cửa ván, tắt đèn.

* * *

Nửa đêm tôi tỉnh dậy vì khát. Tôi ngủ trên bộ ván ở nhà trong, sát tấm màn. Tôi đang định ngồi dậy thì nghe một tiếng ngoài tiệm.

"Xoẹt."

Tiếng hai lưỡi kéo cắt vào nhau. Nghỉ. Rồi "xoẹt". Rồi "xoẹt, xoẹt", nhanh dần, đều tay, giống hệt tiếng tôi tỉa tóc cho khách mỗi ngày.

Tôi nằm yên. Tôi nghĩ chuột. Chuột không cắt kéo.

Tiếng kéo kêu thêm một lúc rồi ngưng. Tôi vén màn nhìn ra. Tiệm tối, chỉ có ánh đèn đường lọt qua kẽ ván, vạch lên tấm gương mấy sọc vàng. Ba cái ghế vẫn ở chỗ cũ. Cây kéo của tôi vẫn nằm trên kệ.

Nhưng cái ghế giữa đã xoay. Lúc tôi đóng cửa nó quay mặt vô gương. Giờ nó quay lưng lại gương, mặt hướng về tấm màn, hướng về chỗ tôi đang đứng. Hướng về phía buồng Mế.

Sáng hôm sau, tôi cầm kéo hớt cho người khách đầu tiên, và lần đầu tiên trong mười năm, hai lưỡi kéo trong tay tôi run lên khe khẽ, chạm nhau lách cách, như người lạnh răng va răng.