Chương 5: Tiệm bốn ghế trên tỉnh
Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem
Tôi đóng cửa tiệm một ngày, chạy xe lên thành phố Trà Vinh.
Đường quốc lộ 60 tháng Năm nắng chang chang, nhựa đường bốc hơi lượn sóng. Tôi chạy chiếc Wave cũ, đội nón kết, đeo khẩu trang. Sợi chỉ trắng ông Kru cột vẫn còn trên cổ tay trái, đã ngả màu cháo. Sợi chỉ đỏ thì tôi nhét trong túi quần, gói trong giấy báo. Tôi không dám vứt. Vứt rồi nó lại về.
Tiệm của Vươn nằm trên đường Phạm Ngũ Lão, gần chợ thành phố. Bảng hiệu đèn chớp, cửa kính kéo, trong gắn máy lạnh. Bốn ghế xoay bọc da đen, bốn tấm gương lớn có đèn viền. Ba thằng thợ trẻ mặc áo thun đồng phục đang hớt cho khách, nhạc mở lớn. Vươn ngồi sau quầy thu ngân sát cửa, coi sổ.
Tám năm không gặp. Tôi đứng ngoài cửa kính một lúc mới nhận ra nó.
Vươn ba mươi hai tuổi như tôi mà nhìn như bốn mươi lăm. Tóc nó bạc gần hết, không bạc đều, mà bạc từng mảng, chỗ trắng chỗ đen, như con chó đốm. Nó ốm, má hóp, gò má nhô. Nó ngẩng lên thấy tôi, nụ cười nó vẫn y như hồi mười chín tuổi.
"Phên. Vô đi mày."
* * *
Nó dẫn tôi ra cái bàn nhựa sau tiệm, rót trà đá. Lúc rót, tay nó run. Không run nhiều, nhưng vòi bình trà gõ khe khẽ vô miệng ly. Lách cách. Nó thấy tôi nhìn, cười, nói tám năm nay rồi, quen rồi.
"Tao không cầm kéo được nữa. Tao ngồi đếm tiền thôi."
Tôi hỏi thẳng nó ông khách áo trắng là ai. Tôi tả ông, tả cái nắm tóc. Tôi nói tôi không muốn chuyện lớn, chỉ muốn nó dừng tay. Tiệm nó muốn thì nó nói thẳng, đừng chơi kiểu đó.
Vươn ngồi im nghe hết. Nó không chối. Nó cũng không nhận. Nó xoay xoay ly trà trên bàn, nhìn đá tan.
"Ông đó là thầy tao," nó nói. "Ông Hai Bảy Núi. Tao ở với ông gần một năm hồi tao bệnh. Ông chữa cho tao sống."
Tôi hỏi ông ở đâu, tôi muốn gặp ông. Vươn ngẩng lên nhìn tôi.
"Ông mất rồi. Hai mươi ba tháng Chạp. Tao lên An Giang đưa ông, chôn ông dưới chân núi Cấm."
Tôi nói không thể. Ông ngồi ghế tiệm tôi cuối tháng Ba. Tôi cạo gáy cho ông. Gáy ông lạnh như nước giếng.
Vươn gật đầu, như chuyện đó nó biết rồi.
"Trước khi mất ông dặn tao. Ông nói ông đi rồi thì ông đem trả giùm tao. Cái gì của ai thì trả về người đó. Ông giữ lời."
* * *
Tôi hỏi trả cái gì.
Vươn không trả lời liền. Nó đứng dậy, đi vô trong, một lát đem ra một tấm hình. Hình chụp ngày khai trương tiệm năm 2003. Hai đứa đứng hai bên cái ghế giữa, mặc áo sơ mi trắng mới, cười toe. Đứng giữa, sau lưng ghế, là Mế tôi. Hồi đó Mế còn mập, tóc búi cao, đen nhánh.
"Mày nhớ hồi năm 2005 không," Vươn nói. "Tao tính mua lại nửa tiệm của mày. Tao có tiền ngoại cho. Tao muốn sửa lại, làm tiệm lớn, đứng chung với mày. Tao nói với Mế mày trước, Mế mày không nói gì. Tuần sau tao bệnh."
Tôi nhớ. Tôi nhớ hồi đó Mế có đi đâu mấy ngày, tôi không nhớ đi đâu. Tôi nhớ Vươn bệnh và nằm ở cái ghế giữa, thở không ra hơi, Mế lau mặt cho nó bằng khăn ướt, còn tôi chạy đi kêu xe ôm.
"Mày nói vậy là sao?"
"Tao không nói gì hết." Vươn nhìn tôi. Lần đầu tiên nụ cười của nó tắt. "Tao không nhắm mày, Phên. Tao chưa bao giờ nhắm mày. Mày đừng ôm cái không phải của mày."
Tôi đứng dậy làm đổ ly trà. Tôi nói nó điên rồi. Tôi nói Mế tôi tụng kinh mỗi tối, lên chùa mỗi rằm, Mế tôi nuôi nó ăn suốt hai năm như con. Tôi nói nó muốn cái tiệm thì nó bịa ra chuyện gì cũng được. Ba thằng thợ ngoài kia ngưng tay quay lại nhìn.
Vươn không cãi. Nó chỉ cúi xuống lượm mấy cục đá rơi dưới đất, bỏ lại vô ly, chậm chạp, bằng bàn tay run.
"Tám chục triệu, tao vẫn để đó," nó nói, không ngẩng lên. "Lúc nào mày muốn thì gọi tao. Đừng để lâu."
* * *
Tôi chạy xe về Tiểu Cần lúc trời sập tối. Tới đoạn cầu Mỹ Trà, gió sông thổi lên lành lạnh. Tôi liếc kính chiếu hậu.
Trên yên sau xe tôi có một người ngồi. Áo sơ mi trắng. Gáy cạo sát.
Tôi thắng gấp, xe chúi đầu. Tôi quay lại. Yên sau trống trơn. Một chiếc xe tải chạy ngang bóp còi dài.
Tôi về tới nhà khi đèn đường đã bật. Cửa tiệm mở hé. Bàn cốm của Mế không dọn ra. Tôi dắt xe vô, bật đèn tuýp.
Mế đang ngồi trên cái ghế giữa. Quay lưng vô gương, mặt hướng về tấm màn nhà trong, đúng như cái ghế vẫn tự xoay mỗi đêm. Hai tay bà đặt trên đùi, bàn tay run lẩy bẩy.
"Mày lên gặp thằng Vươn hả," Mế nói. Không phải câu hỏi.