Chương 8: Chậu ngải mùa cúc
Khoảng 4 phút đọc·3lượt xem
Tôi không nghe lời ông Ba.
Đêm đó tôi bưng chậu ngải vô bếp, đặt sát cái bếp than tổ ong vừa nhóm, lấy cái mền cũ của mạ quấn quanh thành chậu. Tôi ép hai nửa củ lại với nhau, lấy chỉ khâu áo quấn chặt, vùi xuống đất. Rồi tôi lấy cây kim lớn nhất trong hộp, chích vào đầu ngón giữa tay trái, chỗ cái nốt chai màu tím.
Máu ra chậm, đặc, sẫm hơn tôi nhớ. Tôi nhỏ ba giọt. Rồi nhỏ thêm ba giọt nữa.
Ngoài buồng, anh Lâm ngâm nga trong giấc ngủ. Tôi ngồi bên bếp than, lấy hai tay bịt tai lại cho tới khi tiếng ngâm ngưng.
* * *
Sáng hôm sau tôi pha cà phê sữa. Nhiều sữa, ít đường, thêm một muỗng nước tưới ngải. Tôi đặt ly lên bàn cạnh cửa sổ, chỗ cái chậu từng nằm.
Anh Lâm ngồi xuống, nhìn ly cà phê. Anh không hỏi ly đen. Anh cầm lên, uống một hơi hết sạch, đặt xuống. Rồi anh ngồi yên, hai tay đặt trên mặt bàn, nhìn ra cửa sổ. Không nhìn về phía rặng thông, không nhìn về phía chợ. Chỉ nhìn.
Chiều đó anh không ra chợ đêm. Chiều hôm sau cũng không.
Anh đi làm, đi về, ăn cơm, ngủ. Anh không ngâm nga nữa, cả khi chà giấy nhám, cả trong giấc ngủ. Anh không hỏi tụi mình quen nhau ở đâu. Anh không hỏi gì hết. Ông chủ xưởng gọi cho tôi, nói thằng Lâm dạo này làm kỹ mà chậm, đóng một cái khung cả ngày, chà đi chà lại một góc gỗ tới mòn lõm vô.
Có buổi tối tôi gọi anh tới lần thứ ba anh mới quay lại. Có buổi tối anh gọi tôi là chị.
* * *
Ngón tay tôi không lành.
Vết kim chích hằng sáng không đóng miệng. Nó rỉ một thứ nước vàng nhạt, tanh tanh. Móng tay ngón giữa đổi màu từ hồng sang tím, rồi sang xám như móng người chết đuối. Tôi quấn băng keo, đi làm. Chị Hằng thấy, hỏi tôi bị gì, tôi nói kim đâm.
Tôi ốm đi. Tôi lạnh suốt. Đắp hai lớp mền, mang vớ len, vẫn lạnh từ trong xương lạnh ra. Đêm tôi nằm, nghe trong bếp, chỗ chậu ngải, có tiếng lá cọ vào nhau sột soạt, như có ai đang đứng dậy rồi ngồi xuống.
Chậu ngải xanh lại. Củ liền miệng. Đầu tháng Chạp nó đâm ra một bẹ lá mới, xanh bóng, gân tím rõ như mạch máu trên mu bàn tay người già.
* * *
Một chiều tôi dọn sạp xong, không về thẳng nhà. Chân tôi tự đi xuống chợ đêm. Tôi đứng ở bậc thang thứ ba.
Tôi biết mình đang làm gì. Tôi vẫn đứng.
Sạp hoa vẫn ở đó. Chị Nhàn ngồi trên ghế đẩu, bó hoa ba vòng lạt. Con bé Na ngồi bên, làm bài dưới bóng đèn sạc. Tôi đứng nhìn hai mẹ con. Tôi không biết vì sao tôi đứng. Tôi chỉ biết nếu tôi bước đi, trong ngực tôi có cái gì đó sẽ đứt.
Chị Nhàn ngẩng lên. Chị nhìn tôi, thẳng, không giận, không thương. Như người ta nhìn một người khách đứng lâu mà không mua.
Rồi chị cúi xuống bó hoa.
* * *
Tuần sau sạp hoa không còn ở chân bậc thang. Chỗ đó có một người bán khăn len khác dọn vô.
O Diệu nói chị Nhàn bán hết hàng, dắt con về Quảng. Đi từ sáng, không nói với ai. O đưa cho tôi một bó cúc họa mi bọc giấy báo.
"Hắn gửi cho con. Hắn nói đưa cho cô ở dốc Nhà Làng. O không có hỏi chi."
Bó cúc quấn ba vòng lạt tre. Cánh hoa đã héo mép.
Tôi đem về, cắm vào cái ly thủy tinh có quai, đặt lên bàn. Tối đó anh Lâm đi làm về, đi ngang cái bàn, nhìn bó hoa một lúc. Tôi đứng sau lưng anh, nín thở.
"Hoa ai mua vậy chị?"
Anh nói, rồi đi rửa tay, ngồi xuống mâm cơm.
* * *
Đám cưới tụi tôi không làm. Không ai hỏi. Mấy chị trong chợ thôi chọc tôi chuyện ông chồng không cần dây xích.
Giờ là tháng Giêng, mai anh đào trên dốc đã nở. Sáng nào tôi cũng dậy trước anh, bắc ấm nước, chích ngón tay, pha một phin cà phê. Anh uống hết. Rồi anh ngồi đó, nhìn ra cửa sổ, chờ tôi bảo đi làm thì đi.
Chậu ngải sống khỏe bên bếp than. Bó cúc họa mi trong ly thủy tinh khô lâu rồi, tôi không vứt. Cánh hoa rụng xuống mặt bàn, mỗi sáng tôi lại thấy thêm vài cánh, dù không ai chạm vào.
Sáng nay anh uống cà phê xong, ngẩng lên nhìn tôi. Nhìn rất lâu. Rất lịch sự. Như người ta nhìn một người bán hàng ở chợ.
Tôi quay đi rửa phin. Lúc nước chảy, tôi nghe trong gian nhà có ai đang ngâm nga cái điệu đó. Chậm, buồn, lên xuống.
Anh Lâm ngồi im bên bàn, môi khép chặt.
Tôi tắt nước. Tiếng ngâm vẫn còn. Nó ở trong cổ họng tôi.