Chương 10: Đèn nhà cuối xóm
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Đèn nhà tôi không bao giờ cháy lại.
Thắm thử hết cách. Thay bấc, thay bầu, mượn đèn nhà cô Lụa, mượn cả cây đèn bão của hợp tác xã. Đèn ở ngoài sân thì cháy, mang qua bậc cửa là lụi. Nến cũng thế. Đuốc cũng thế. Giẻ tẩm dầu trong bát cháy được một lúc rồi tắt.
Nhà tôi ăn cơm tối trong tối, như nhà ông Bái, nhà bà Nhỡ, nhà cụ Khản. Nhà thứ tám.
Nhưng những cái khác thì thôi. Không ai trong nhà tôi câm, không ai ngồi quay mặt vào vách. Con Mộng lại đi thẳng luống. Tôi vẫn cày. Làng bảo tôi đi qua gốc gạo bây giờ nhanh hơn, không ngoái lại. Họ không biết là tôi không cần ngoái. Hõm rễ ấy trống rồi, tôi biết nó trống như biết lòng bàn tay.
Người ta đồn khắp xã chuyện bảy nhà tắt đèn. Thêm nhà tôi là tám, mà không ai đếm nhà tôi vào. Trong chuyện người ta kể, nhà tôi tắt là vì tôi ra gốc gạo ngồi, bị lây. Thắm không cải chính. Tôi cũng không. Đến giờ người làng Ngòi vẫn kể bảy nhà.
Ông giáo Thuần nói lại được vào đúng hôm cây gạo ra hoa. Tiếng đầu tiên ông nói là gọi vợ lấy cho cốc nước. Ông không nhắc gì đến những ngày câm, không nhắc đến ba chữ phấn trên cánh cửa, ông đã lau sạch từ lâu. Chỉ có một lần gặp tôi ở giếng làng, ông nhìn tôi, rồi nhìn xuống bàn tay phải của tôi, rồi đi. Ông không chào. Từ đấy ông không chào tôi nữa.
* * *
Mùa xuân năm sau cây gạo ra hoa. Đỏ hơn mọi năm, người ta bảo thế, tôi thì thấy vẫn đỏ như vậy. Hoa rụng xuống cái hố mới lấp của Khánh, phủ kín, như ai đắp cho một cái nấm bằng hoa.
Khánh không về làng lần nào nữa. Không thư, không nhắn. Nhưng mỗi tháng Chạp, cái hố ở gốc gạo vẫn có một nén hương, cắm lúc trời chưa sáng. Vẫn là tôi cắm. Tôi không biết cắm cho ai nữa, cho anh ấy hay cho tôi.
Năm tám bảy hợp tác xã họp, quyết chặt cây gạo lấy gỗ đóng bàn ghế cho trường cấp một. Lần này có người đứng lên nói chặt. Người ấy là tôi. Cây đổ về phía đồng, mất hai ngày cưa, gỗ gạo xốp, đóng được mươi cái ghế. Gốc để lại, cao đến ngực. Hõm rễ vẫn còn, nhưng không ai ngồi.
Năm chín hai điện về làng. Cột gỗ dựng dọc đường xóm, dây kéo vào từng nhà, bóng tròn hai nhăm oát treo giữa gian. Đêm đầu tiên cả làng Ngòi sáng như có hội, trẻ con chạy ngoài đường đến khuya. Nhà tôi thợ điện lắp xong bật công tắc, bóng loé lên một cái rồi đứt. Thay bóng khác, lại đứt. Thợ điện kiểm tra dây, kiểm tra cầu chì, lắc đầu, lấy tiền công rồi về. Sau ba lần thay bóng, Thắm bảo thôi.
Thằng Lực con tôi lấy vợ, ra ở riêng bên xóm Bến, nhà nó bóng điện sáng bình thường. Nó muốn đón hai vợ chồng tôi sang. Thắm không đi. Thắm bảo, nhà mình ở đây, tối thì tối.
* * *
Tôi kể chuyện này ở tuổi sáu mươi tư. Thắm vẫn còn, mắt kém đi nhiều, nhưng Thắm bảo nhà không có đèn thì mắt kém cũng chẳng thiệt gì.
Tôi không gặp lại người ấy. Hõm rễ trống từ chiều tôi nói tám. Tôi tin là anh ấy đi rồi. Tôi tin là cái câu tôi nói, dù muộn hai mươi sáu năm, cũng đủ cho anh ấy đứng dậy.
Nhưng còn một việc tôi chưa nói với ai. Chiều nào tôi cũng ra hiên ngồi, chờ làng lên đèn. Bây giờ là đèn điện, lên cùng một lúc, cả làng loé sáng như một cái mâm đồng vừa được đánh. Không có gì để đếm nữa.
Vậy mà tay phải tôi vẫn giơ lên. Tôi không định giơ, tôi thấy nó giơ. Ngón trỏ duỗi ra, chỉ về phía cây mít nhà ông Bái cũ, giờ là nhà con trai ông ấy, đèn ống sáng trắng. Môi tôi mấp máy. Một.
Tôi đếm được bảy. Lần nào cũng bảy. Đến nhà thứ tám là tay tôi dừng, run, rồi hạ xuống. Tám là nhà tôi, mà nhà tôi không có đèn để chỉ. Tôi không biết người ta đếm cái nhà mình thế nào khi nó không sáng. Tôi không biết cái tay này giơ lên để tiếp tục việc của anh ấy, hay để tiếp tục việc của tôi.
Thằng cháu nội tôi năm nay lên sáu. Bố mẹ nó bận, chiều nào nó cũng sang ăn cơm với ông bà, ngồi với tôi ở hiên chờ đèn lên. Nó thích nhìn làng sáng. Nó không sợ nhà ông bà tối, nó bảo tối thì nhìn làng rõ hơn.
Tối qua nó ngồi cạnh tôi. Đèn làng lên. Nó giơ tay phải, ngón trỏ duỗi ra, chỉ về phía nhà ông Bái cũ. Môi nó mấp máy. Tôi nghe rõ nó nói một.
Rồi tay nó dịch sang trái. Về phía nhà bà Nhỡ cũ.
Tôi không hỏi nó đếm đến mấy.