☾ Truyện Ma Có Thật
← Góc hầm dưới bếp

Chương 1: Qua sông Hồng

Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem

Năm ấy tôi mười tuổi. Nhà tôi ở phố Hàng Thao, thành Nam, một gian nhà ống lợp ngói, gác xép bằng gỗ, cửa trước bán mũ cọ, cửa sau trông ra cái sân giếng chung. Thầy tôi làm thợ ở nhà máy sợi. U tôi ở nhà làm mũ. Bà nội tôi ngồi khâu quai mũ cả ngày bên cửa sổ, hễ nghe còi nhà máy là bảo sắp đến bữa.

Cuối năm 1946 thì đánh nhau. Thầy tôi theo tự vệ thành, đi một đêm không kịp chào ai. Tôi chỉ nhớ đêm trước đó súng nổ ở phía nhà thương, cả nhà chui xuống gầm phản, thằng Cốm em tôi mới bốn tuổi cứ khóc. Thầy tôi nằm ngoài cùng, quay vào, đặt ngón trỏ tay trái dọc lên môi tôi rồi gõ nhẹ hai cái.

"Thế này là im nhé. Im mà không sợ, vì có thầy đây."

Tay trái thầy tôi cụt mất đốt đầu ngón út, bị máy sợi kéo từ hồi còn học việc. Cái ngón cụt chạm vào cằm tôi, ram ráp. Tôi nín. Thằng Cốm cũng nín theo. Sáng ra thầy đi.

* * *

Tháng Giêng có người liên lạc mang về một mẩu giấy gấp tư. Chữ thầy tôi viết bằng bút chì, nét nghiêng: thành mà vỡ thì u đưa bà với các con sang Ngọc Trì bên kia sông, huyện Vũ Tiên, tìm ông Mão, ông ấy lo chỗ ở. Không có câu nào khác. U tôi đọc xong gấp lại, giắt vào cạp quần, từ đó không thấy u bỏ ra nữa.

Đến cuối tháng Hai thì thành vỡ thật. Phố Hàng Thao cháy một nửa. Nhà tôi còn, nhưng Tây đã vào, đêm nào cũng có tiếng giày đinh dưới phố. U tôi gói hai bọc quần áo, một nồi đồng, một túi gạo, cõng bà nội ra bến Đò Quan lúc trời chưa sáng. Tôi dắt thằng Cốm. Tôi ngoái lại, thấy cái ống khói nhà máy sợi đứng đen giữa khói.

Đò chở chừng ba chục người, chìm gần ngang mạn. Sông Hồng tháng ấy nước còn cạn, đỏ đục như nước gạch cua. Người lái đò không cho ai nói to, vì sợ tàu Tây trên sông. Bà nội tôi ngồi giữa khoang, hai tay bấu vào mạn, môi lẩm nhẩm niệm Phật. Sang tới bên kia thì mặt trời lên, bãi ngô non xanh mướt, và tôi thấy thành Nam sau lưng chỉ còn là một vệt khói xám.

* * *

Ngọc Trì là một làng ven đê, có lũy tre dày và một cái đình mái cong nhìn ra bãi sông. Ông Mão là chủ tịch xã, người gầy, đen, đầu cạo trọc, mặc áo cánh nâu. Ông đọc mẩu giấy của thầy tôi rất lâu, lâu hơn nhiều so với mấy dòng chữ ấy. Rồi ông bảo u tôi ra cổng nói chuyện riêng.

Tôi đứng trong sân nhìn ra. Ông Mão nói gì đó, ngắn thôi. U tôi đứng im. Rồi u vịn tay vào cột cổng, cúi xuống như người bị chóng mặt, một lúc mới đứng thẳng lên được. Lúc u quay vào, mặt u trắng bệch, nhưng u bảo không sao, đi đò say sóng.

Ông Mão dẫn nhà tôi đến một ngôi nhà ba gian ở cuối xóm Đình, sát lũy tre. Nhà vắng chủ. Ông bảo chủ nhà là ông Khóa Thiều, ông cụ ở một mình, giờ không về nữa. Nhà lợp rạ, vách đất trộn rơm, hiên có hai cái chum sứt miệng. Gian bếp ở chái bên, cái bếp kiềng ba ông đầu rau, cạnh bếp có một cái bồ trấu to bằng cái thúng đại.

Ông Mão bê cái bồ trấu sang một bên. Dưới đó là một tấm ván. Nhấc tấm ván lên, một cái lỗ vuông tối om, một cái thang tre bắc xuống.

"Hầm đấy. Có tàu bay thì xuống. Có Tây thì xuống, đậy bồ lại."

Ông nói xong không nhìn cái lỗ nữa. Ông chào u tôi rồi đi rất nhanh.

* * *

Ngay tối hôm ấy có tàu bay. Người làng gọi là tàu bay bà già, cái thứ bay thấp, chậm, kêu è è như cối xay lúa. Nó lượn mấy vòng trên bãi sông rồi vòng lại. U tôi thổi tắt bếp, bế thằng Cốm, bảo tôi đỡ bà nội xuống thang trước.

Hầm sâu quá đầu người lớn, rộng chừng hai cái phản ghép lại. Vách đất còn in vết thuổng. Mùi đất ẩm, mùi rễ tre, và một mùi khác nữa, tanh tanh như mùi gỉ sắt. U tôi châm cái đèn dầu lạc đặt trên một cái đĩa đất, ngọn lửa nhỏ bằng hạt đỗ.

Tôi ngồi xuống cạnh bà nội. Rồi tôi thấy người ấy.

Ở góc trong cùng, chỗ ánh đèn không tới, có một người đàn ông ngồi bó gối. Gầy. Mặc áo cánh nâu, chân quấn xà cạp vải chàm từ cổ chân lên gần đầu gối. Đầu cúi xuống. Tay phải áp vào ngực. Người ấy không động đậy, không ngẩng lên khi nhà tôi xuống.

Tôi nhìn u. U tôi đang ôm thằng Cốm, mắt nhìn ngọn đèn. Bà nội tôi lần tràng hạt. Không ai nói gì. Không ai chào.

Tôi nghĩ người lớn chắc đã biết. Chắc là người của ông Mão, người trong làng, người cần trốn. Ở nhờ nhà người ta thì đừng hỏi. Bà nội tôi vẫn dạy thế.

Tàu bay è è trên đầu rồi xa dần. U tôi thì thầm đếm, tay chạm vào từng người:

"Bà. Con Nhài. Thằng Cốm. Đủ cả."

U không chạm vào góc ấy. U không tính cả u, mà cũng không tính người kia. Tôi không hiểu sao u lại đếm, có bốn người thì đếm làm gì.

Lúc lên, u đi trước, tôi đi sau cùng. Đứng trên bậc thang thứ ba, tôi ngoái lại. U đã thổi tắt đèn, dưới hầm tối như mực. Nhưng tôi biết người ấy vẫn ngồi đó. Lúc nãy, ngay trên vai người ấy, trên vách đất, tôi đã kịp thấy một vết bàn tay xoè ra, màu nâu sẫm, như ai chấm tay vào bùn rồi áp lên.