Chương 1: Quán cơm bến Cái Vồn
Khoảng 5 phút đọc·9lượt xem
Trước khi lấy chồng, tôi bán cơm ở bến chợ Cái Vồn, bên bờ sông Hậu phía Vĩnh Long. Quán là cái chái tôn dựng sát mé nước, ba cái bàn gỗ, một nồi cơm, một chảo cá kho tộ, một thau canh chua. Khách là người chạy ghe, lơ ghe, cửu vạn vác lúa. Họ ăn vội, nói lớn, trả tiền bằng tờ hai ngàn nhàu nhèo còn mùi dầu máy.
Má tôi mất sớm, ba tôi chài lưới ở cồn. Năm hai ngàn tôi hai mươi hai tuổi, chưa ai dạm hỏi. Người trong xóm nói con Lụa đen quá, tóc cắt ngắn như con trai, ăn nói cộc. Tôi không buồn. Tôi chỉ muốn có một chỗ nào khác để đi, ngoài cái bến này.
* * *
Anh Tư Lực tới quán lần đầu vào tháng Tám năm đó, mùa nước nổi. Ghe anh là ghe gỗ hai chục tấn, sơn xanh, mũi có hai con mắt đỏ, chở gạo từ chành Thốt Nốt xuống vựa ở Đại Ngãi. Ghe hàng chạy đêm cho mát máy, cho kịp con nước, sáng ra là tới vựa. Chiều nào ghé Cái Vồn đổ nước ngọt, anh cũng lên ăn cơm.
Anh ít nói. Anh ăn chậm, gỡ xương cá kỹ, không bao giờ để thừa hột cơm. Lần thứ ba ghé, anh hỏi tên tôi. Lần thứ năm, anh nói anh góa vợ hai năm rồi, vợ chết đuối trên sông.
Tôi nhớ cái áo anh mặc hôm đó. Áo sơ mi nâu, cùi chỏ bên trái rách đã được vá. Miếng vá bằng vải cùng màu, mà chỉ khâu lại màu xanh lá. Mũi khâu nhỏ, đều, kỹ như người ta khâu áo cho con nít. Tôi nhìn miếng vá lâu, rồi hỏi ai khâu mà khéo vậy.
"Má anh."
Anh nói vậy, rồi kéo tay áo xuống. Tôi tin. Tôi muốn tin.
* * *
Có một chuyện nhỏ ở quán năm đó mà tôi kể luôn ở đây, vì về sau nó trở lại.
Tháng Hai năm sau, một buổi chiều chạng vạng, có một người đàn bà vô quán. Chị đội nón lá, sụp vành, ngồi ở cái bàn trong góc, chỗ ánh đèn không tới. Chị kêu một ly trà đá. Tóc chị dài, bới thấp sau ót, thoa dầu dừa thơm tới mức tôi đứng bên bếp còn nghe mùi.
Chị không uống. Chị ngồi nhìn tôi làm cá. Lúc tôi đem ly trà ra, chị hỏi:
"Em là Lụa hả?"
Tôi nói dạ. Chị hỏi thêm một câu nữa, tôi trả lời, rồi chị để tiền dưới ly, đứng dậy đi ra bến. Ly trà còn nguyên, nước đá tan hết.
Tôi không nhớ mặt chị. Tôi chỉ nhớ mùi dầu dừa, với cái cách chị đi ra mé nước, không quay đầu. Tuần đó anh Tư không ghé quán. Ba tháng sau anh mới ghé lại, ốm đi, râu không cạo.
Cũng khoảng thời gian đó tôi mất cái kẹp tóc. Kẹp nhựa hình con bướm màu đỏ, tôi mua ở chợ Cần Thơ, cái duy nhất tôi có. Tôi nghĩ chắc rớt xuống sông lúc rửa chén.
* * *
Tháng Mười một năm hai ngàn lẻ một, nước rút, tôi lấy anh Tư. Đám cưới nhỏ, làm ở nhà ba tôi, có mấy người chạy ghe tới uống rượu. Bên nhà trai chỉ có má anh, một bà già lưng còng ở Ô Môn, ngồi một góc, ít nói. Tôi để ý tay bà run tới mức cầm đũa không vững.
Chiều hôm đó tôi xách giỏ đồ xuống ghe. Từ đó ghe là nhà.
Trên ghe có ba người. Anh Tư cầm lái. Thằng Sơn mười bảy tuổi làm lơ, quê Trà Ôn, ốm nhom, lo dây neo, bơm nước lườn, nấu cơm. Còn tôi. Phía sau lái có cái mui ván, cửa lùa, trong mui trải chiếu, có cái gối, cái mùng, cái đèn dầu treo ở xà. Ghe chạy đêm thì anh Tư thức cầm lái tới sáng, thằng Sơn ngủ ở mũi, còn trong mui chỉ có mình tôi.
* * *
Đêm đầu tiên ghe chạy, tôi không ngủ được vì tiếng máy. Máy Đông Phong nổ đều dưới sàn, rung lên tới xương sống. Mùi dầu, mùi gạo mới trong bao, mùi bùn từ sông thổi vô qua khe ván. Đèn dầu vặn nhỏ, lay theo sóng.
Tôi nằm bên phải, sát vách. Không ai dặn, tôi tự nằm vậy. Chắc vì thấy bên trái cái chiếu có một vệt bạc màu, như chỗ đó đã có người nằm lâu.
Gần nửa đêm thì tôi thiếp đi. Tôi tỉnh vì tấm ván sàn lún xuống.
Lún nhẹ, ở bên trái, ngay sau lưng tôi. Kiểu người ta nằm xuống từ từ cho khỏi đánh thức người bên cạnh. Rồi cái lạnh. Không phải gió. Cái lạnh của một thân người vừa từ dưới nước lên, áp hờ vô lưng tôi qua lớp áo.
Rồi mùi. Mùi dầu dừa.
Tôi nằm im, mắt mở trừng nhìn vách ván. Tôi nghĩ anh Tư giao lái cho thằng Sơn, vô nằm. Tôi định quay lại. Nhưng tiếng máy vẫn đều, và qua khe vách tôi nghe anh Tư đằng lái ho khan, nhổ xuống sông.
Anh vẫn đang ở ngoài lái.
Tôi không quay lại. Tôi nằm như vậy tới khi trời xám.
* * *
Sáng ra ghe neo ở Đại Ngãi. Tôi ngồi dậy, và thấy nửa bên trái cái chiếu ướt sũng.
Ướt đúng một khổ người nằm, từ đầu tới chân. Mép chiếu còn nhỏ nước xuống ván. Nước có mùi sông. Trên chỗ ướt có một sợi tóc dài, đen, dài gấp ba tóc tôi.
Anh Tư vô, nhìn cái chiếu, rồi nhìn lên mái mui.
"Mui dột đó em. Để bữa nào anh trét lại."
Tôi gật. Rồi tôi ngước lên coi mái. Ván mái khô ran. Đêm qua trời không mưa một hột.