Chương 5: Chiếc chiếu bông mới
Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem
Hai mươi ba tháng Chạp, ghe neo ở Thốt Nốt chờ chuyến hàng cuối năm. Chành gạo đông nghẹt, ghe xuồng đậu chật bến, người ta mua mai, mua dưa hấu chở về quê ăn Tết. Trên ghe tôi, thằng Sơn đi xin lá chuối về để tôi gói bánh tét.
Tôi ngồi ở khoang giữa, trải lá, xúc nếp. Thằng Sơn ngồi đối diện cột dây lạt. Lần đầu tiên từ khi tôi xuống ghe, nó vui. Nó kể chuyện Tết ở Trà Ôn, đốt pháo ống tre, đánh bài cào ăn hột dưa.
"Tết năm ngoái dì Thắm gói bánh tét nhân chuối cho em, dì gói nhỏ xíu cỡ cổ tay, cột lạt đỏ, nói để em ăn một mình khỏi chia..."
Nó ngưng. Tay nó cầm sợi lạt cứng lại giữa chừng.
Tôi ngẩng lên. Chị Thắm mất năm chín chín. Tết năm ngoái là Tết Tân Tỵ, năm hai ngàn lẻ một.
"Tết năm ngoái hả Sơn?"
"Em lộn. Tết năm kia. Hổng phải, năm... em lộn rồi chị."
Nó cúi xuống, cột dây lạt, cột tới ba nút. Tôi không hỏi nữa. Tôi nghĩ con nít mười bảy tuổi, nhớ Tết nào ra Tết nào. Tôi gói tiếp. Nhưng tới đòn bánh thứ tư thì tôi cột lạt sai, nếp xì ra, phải gói lại từ đầu.
* * *
Hai mươi bảy Tết, ghe về Cần Thơ, tôi lên chợ mua một chiếc chiếu mới. Chiếu bông Định Yên, dệt hình hoa sen đỏ xanh, còn thơm mùi lác. Tôi nói với anh Tư năm mới phải có chiếu mới.
Tôi nghĩ anh sẽ cản, hoặc ít nhất hỏi vì sao. Anh không hỏi. Anh nhìn chiếc chiếu một hồi, rồi gật, nói cũng phải. Tối đó, khi tôi trải chiếu mới, anh tự tay cuộn chiếc chiếu cũ, cột bằng dây ni lông, ôm ra sau lái. Tôi đứng ở cửa mui nhìn.
Ghe đang chạy giữa sông. Anh đứng ngay chỗ cái bao bố, quăng cuộn chiếu xuống nước. Quăng mạnh, xa. Cuộn chiếu chìm xuống rồi nổi lên, rồi trôi ra sau, mất trong bóng tối.
Tôi nhớ lời bà Ba dặn. Đừng đuổi nó. Tôi đứng đó, và tôi biết mình vừa làm điều bà dặn đừng làm.
* * *
Mấy ngày Tết ghe nghỉ, neo ở bến nhà ba tôi. Ba tôi say từ mùng một tới mùng ba. Anh Tư lì xì cho mấy đứa cháu tôi, uống với ba tôi vài ly, cười nhiều hơn mọi khi. Tối anh vẫn ra ghe ngủ ngoài lái, nói giữ hàng. Tôi ngủ trong mui, trên chiếc chiếu mới.
Ba đêm liền, không có gì.
Không có tiếng ván lún. Không có tiếng thở. Sáng ra chiếu khô, hoa sen đỏ xanh nguyên vẹn. Tôi nằm duỗi tay ra hết khổ chiếu, sờ khắp, chỗ nào cũng khô ráo. Tôi thấy mình nhẹ người. Tôi thấy mình ngu, mấy tuần qua để cái mui dột với mấy sợi tóc làm mình sợ.
Mùng sáu ghe chạy chuyến đầu năm. Mùng sáu, mùng bảy, vẫn khô.
* * *
Đêm mùng tám, ghe chạy ngang vàm Trà Ôn lúc hai giờ sáng như mọi chuyến.
Tôi đang ngủ say thì máy ghe kêu lên một tiếng rột dài, khục khặc, rồi tắt hẳn. Ghe chao đi, xoay ngang, trôi theo nước ròng. Tôi nghe anh Tư chửi, nghe thằng Sơn chạy từ mũi ra lái. Tôi chui ra khỏi mui.
Anh Tư rọi đèn pin xuống sau đuôi ghe. Có cái gì quấn chân vịt. Ghe đang trôi giữa vàm, nước xoáy, đèn chợ Trà Ôn chấm chấm vàng trên bờ. Anh cởi áo, ngậm con dao, leo xuống nước.
Anh lặn ba lần. Lần thứ ba anh trồi lên, kéo theo một đống gì đen, nặng, quấn tua tủa dây ni lông. Thằng Sơn kéo lên sàn.
Là chiếc chiếu cũ.
Vẫn cuộn tròn, vẫn cột dây ni lông y nút anh Tư cột đêm hai mươi bảy. Chiếu đã trôi đâu đó mười hai ngày, rồi quay về đúng cái vàm này, quấn đúng vô chân vịt của ghe này.
Anh Tư đứng trên ván, nước chảy ròng ròng từ tóc xuống, nhìn cuộn chiếu. Anh không nói gì. Thằng Sơn lùi ra tới mũi.
* * *
Tôi ngồi xuống, cắt dây, mở cuộn chiếu ra. Tôi không biết vì sao mình làm vậy. Tay tôi tự làm.
Chiếu ướt sũng, nặng chịch, đầy bùn sông. Nhưng ở giữa, đúng chỗ vệt bạc màu bên trái ngày trước, bùn không bám. Chỗ đó sạch, như vừa có người nằm lên rồi mới ngồi dậy.
Ở giữa chỗ sạch đó có một mảnh nhựa nhỏ màu đỏ.
Nhỏ bằng móng tay cái, cạnh gãy lởm chởm, một bên hơi cong. Tôi nhặt lên. Không biết vì sao, tôi nắm chặt nó trong lòng bàn tay, giấu xuống túi áo, trước khi anh Tư kịp quay lại nhìn.