Chương 4: Những trang cũ
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Không ai hỏi tôi gì về tối hôm đó. Công an làm việc với chú Tư, với cô Hạnh, với ba má Khoa. Người ta kết luận trượt chân. Nhà trường dán thông báo cấm học sinh lên dãy C sau năm giờ chiều.
Tôi định đi nói với ai đó rằng tối qua Ngân cũng ở lại. Trưa hôm đó tôi xuống phòng bảo vệ tìm chú Tư trước. Chú đang ngồi pha trà bằng cái ấm nhôm méo, tay run làm nước trà sóng ra bàn.
Tôi nói con bé Ngân A9 cũng ở trên đó với Khoa. Có ai hỏi nó chưa chú.
Chú Tư ngẩng lên nhìn tôi. Cái nhìn làm tôi lạnh gáy.
"Tối qua chú đứng ở cửa, chú chỉ thấy một mình thằng Khoa ngồi trong đó. Ngồi một mình, nói chuyện một mình."
Tôi nói chắc tại Ngân ngồi khuất sau kệ, chú không thấy. Chú không cãi. Chú chỉ rót cho tôi một ly trà, đẩy qua, rồi nói đừng kể với ai chuyện đó. Kể ra người ta không tin, người ta còn rầy chú vì cho học trò ở lại.
* * *
Đám tang Khoa làm ở nhà nó trong một con hẻm gần chợ Tân Định. Lớp tôi góp tiền phúng điếu, cử ba đứa đi, có tôi. Ba Khoa ngồi một góc, không nói chuyện với ai. Má nó ôm tấm hình nó mặc áo trắng, đeo kính, cười, chụp hồi lên nhận giải học sinh giỏi.
Tôi đứng thắp nhang, nghe má nó nói với một bà hàng xóm, giọng khàn:
"Mấy bữa nay nó học khuya lắm. Về nhà nó nói có bạn học chung, con nhỏ học giỏi lắm. Nó nói con nhỏ hứa chỉ nó tới ngày thi."
Tôi đi ra ngoài hẻm đứng. Tay tôi lạnh. Tôi nói với mình, ai mà không hứa câu đó. Tôi cũng hứa câu đó.
Ba ngày sau, Sở công bố danh sách tuyển thẳng. Tên Khoa có trong đó.
* * *
Tôi không lên thư viện buổi tối nữa. Muốn cũng không được, cửa dãy C đã khóa. Nhưng giờ ra chơi tôi vẫn lên, xin cô Hạnh coi cuốn sổ. Cô đưa mà không nói gì. Tôi nghĩ cô cũng muốn có người coi cùng mình.
Tôi lật ngược về những trang mực tím đầu tiên.
Dòng mực tím đầu tiên ghi ngày mượn tháng Năm năm 1999. Từ đó trở đi, mỗi trang chỉ có một hai dòng, cách nhau nhiều tháng, có khi vài năm. Tên học trò, lớp, ngày mượn, ngày trả. Cột tên sách lúc nào cũng trống. Tôi chép hết ra một tờ giấy đôi. Mười một cái tên, trước tên tôi và tên Khoa.
Giờ tan học tôi đem tờ giấy xuống phòng bảo vệ đưa chú Tư coi. Chú đeo cặp kính lão gãy một gọng, đọc từng dòng. Đọc tới đâu chú gật tới đó, như điểm danh.
"Thằng này... chết đuối ngoài Cần Giờ. Đi chơi với bạn, còn một tuần là thi. Con nhỏ này xe buýt cán, ngay ngã tư Lý Chính Thắng, sáng đi thi tốt nghiệp. Thằng này sốt xuất huyết, sáng đưa vô nhà thương, tối là đi."
Chú ngừng ở cái tên kế tiếp, gõ gõ ngón tay lên đó.
"Đứa này té cầu thang dãy C. Cũng cái chiếu nghỉ đó."
Chú đọc hết mười một cái tên. Không có cái tên nào sống tới ngày trả ghi trong sổ.
Tôi hỏi họ có gì giống nhau. Chú Tư tháo kính ra, lau bằng vạt áo.
"Đứa nào cũng là đứa hay ở lại thư viện buổi tối."
* * *
Chú kể về cô Thoa, đứt khúc, nhớ tới đâu kể tới đó. Cô người Huế, vô Sài Gòn từ trước bảy lăm, làm thủ thư ở trường hơn hai chục năm, không chồng con. Áo dài tím, kính trễ xuống mũi, trong túi áo lúc nào cũng có chai dầu gió xanh.
"Bả viết bút lá tre, chấm mực tím. Đứa nào ghi sổ xấu là bả bắt ghi lại. Còn đóng con dấu thì... trời đất, cả dãy nghe."
Năm giờ chiều là cô đuổi học trò về. Đứa nào lì thì cô đứng ở đầu dãy kệ nhìn, nhìn tới khi nó chịu dọn tập.
Tháng Năm năm 2000, một sáng thứ Hai, chú mở cửa thư viện thì thấy cô gục trên cuốn sổ mở, tay còn cầm bút, lọ mực đổ loang nửa trang. Người ta nói cô đứng tim từ tối thứ Bảy. Không ai biết cô ở lại trường làm gì.
"Hồi bả còn, lâu lâu sổ có một dòng mực tím, ai để ý đâu. Bả mất rồi mà mấy dòng đó vẫn ra. Tới đứa thứ ba, thứ tư là tụi nhỏ đồn. Năm 2007 trường cấm học tối trên đó. Từ đó hết tên mới."
Cho tới năm nay. Năm nay chú Tư cho tôi lên.
Chú nói câu đó rồi ngồi im rất lâu. Rồi chú nói, mắt không nhìn tôi:
"Bả ghét học trò ở lại khuya. Chú biết mà chú quên. Chú già rồi, chú quên."
* * *
Tối hôm đó tôi đi photo đề ở tiệm đầu đường Nguyễn Thượng Hiền, về ngang trường lúc gần chín giờ. Cổng trường đóng, đèn sân tắt, chỉ còn bóng đèn vàng ở phòng bảo vệ.
Tôi dừng xe đạp, ngẩng lên nhìn lầu ba dãy C.
Cả dãy tối. Trừ một khung cửa sổ ở tuốt phía cuối, chỗ cái bàn đơn. Ở đó có một ô vàng nhỏ, cỡ ánh đèn bàn.
Và một bóng người mặc áo trắng đứng ngay sau kính, hai tay buông thõng. Nó không nhìn ra đường. Nó nhìn xuống. Nhìn đúng chỗ tôi đứng.
Tôi nghĩ, Ngân vẫn lên. Ngân vẫn đợi tôi. Tôi đã nghĩ như vậy, và đã thấy vui một chút, trước khi nhớ ra cửa dãy C đã khóa từ năm giờ.