Chương 1: Đêm trực tháng Mười
Khoảng 5 phút đọc·10lượt xem
Tôi về Trường Tiểu học Yên Khê đầu tháng Chín năm 2003, theo quyết định chuyển công tác từ Bắc Ninh sang Hà Nội. Yên Khê là một xã của huyện Gia Lâm, nằm bên bờ bắc sông Đuống, cách ga Yên Viên hơn hai cây số đường đê. Trường này thiếu người, tôi nộp hồ sơ thì được ngay.
Trường có hai dãy nhà cấp bốn quét vôi vàng, mái ngói, xây năm 1998, kê vuông góc với nhau thành hình chữ L. Dãy A quay ra cổng, có phòng hội đồng và phòng hiệu trưởng. Dãy B lùi vào trong, năm phòng, lớp 5A ở phòng cuối cùng, sát gốc cây bàng. Cây bàng là thứ duy nhất ở đây già hơn cái trường. Thân nó to hai người ôm, rễ nổi lên khỏi sân gạch như những con rắn nằm ngủ.
Sân trường lát gạch đỏ, phía sau là ruộng, nhìn thẳng ra bãi ngô ven đê. Tôi thuê một gian nhà ngang của bà Tư bán hàng xén ngoài cổng làng, mỗi tháng tám chục nghìn.
Mỗi tuần một giáo viên nam ngủ lại trường với bác bảo vệ, phòng kẻ gian vào bê quạt trần, bê loa đài. Trường có bốn thầy, nên cứ một tháng tôi trực một lần. Bác bảo vệ tên Tích, hơn bốn mươi tuổi, người làng, ít nói, răng ám khói thuốc lào. Bác ở hẳn trong phòng bảo vệ cạnh cổng.
Hôm phân lịch trực, cô Lan hiệu trưởng đưa tôi tờ giấy rồi nói thêm, giọng như dặn trẻ con:
"Thầy mới về, trực thì cứ nằm phòng hội đồng, khoá cửa, đừng đi lại dãy B ban đêm. Nền trường là đất nghĩa địa cũ của làng, dân người ta kiêng."
Tôi cười. Cô Lan không cười theo.
* * *
Tôi là người bên kia sông, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành. Bố tôi đi B từ năm bảy mốt, về năm bảy sáu, rồi lấy vợ khác, xuống Hải Phòng làm công nhân cảng. Mẹ tôi mất năm bảy hai, lúc tôi hai tuổi, vì bom. Bà ngoại nuôi tôi lớn. Bà chỉ nói với tôi đúng có thế, mẹ mày chết bom, và bà không bao giờ kể thêm.
Bà có một điều cấm rất lạ. Cả đời bà không cho tôi sang bờ bắc sông Đuống. Bà bảo bên ấy đất nặng, người mình sang không hợp. Tôi đi học sư phạm, dạy ở trường làng, đến năm ba mươi tuổi vẫn chưa một lần qua cầu Đuống. Bà mất năm chín chín. Bốn năm sau tôi xin chuyển trường. Lúc gọi điện báo cho bố, bố tôi im lặng rất lâu rồi chỉ hỏi:
"Sang bên ấy làm gì."
Của mẹ tôi còn lại một tấm ảnh đen trắng cỡ sáu nhân chín, mép đã ố. Mẹ đứng trước một cửa lớp, tóc tết hai bên, áo sơ mi trắng, tay cầm cuốn sách ép vào ngực. Sau lưng mẹ là một thân cây to, lá bản rộng, không rõ cây gì. Tôi để ảnh trong ví, đi đâu cũng mang.
* * *
Đêm trực đầu tiên của tôi là thứ Tư tuần thứ hai tháng Mười. Tôi mang theo chồng vở lớp 4B để chấm và một phích nước. Bác Tích pha ấm chè, ngồi với tôi đến hơn chín giờ rồi về phòng bảo vệ, dặn tôi khoá cửa trong. Tôi hỏi bác có đi tuần dãy B không. Bác rít một hơi thuốc lào rồi mới nói:
"Mười một giờ là tôi tắt đèn, nằm. Thầy cũng nên thế."
Tôi chấm vở đến gần nửa đêm. Trường về đêm yên lắm. Có tiếng ếch ngoài ruộng, tiếng tàu hàng qua ga Yên Viên rít dài. Tôi gấp vở, tắt đèn, nằm xuống cái phản kê sát tường.
Tôi tỉnh dậy vì một thứ âm thanh đều đều.
Nó không phải tiếng đài. Thứ này là tiếng nhiều đứa trẻ đọc cùng một lúc, kéo dài từng chữ, lên xuống theo nhịp, cái nhịp đọc đồng thanh mà thầy cô nào cũng nghe mỗi ngày. Từ hướng dãy B. Không rõ chữ, chỉ rõ nhịp. Năm chữ, nghỉ. Năm chữ, nghỉ. Như đọc thơ năm chữ.
Tôi nghĩ nhà ai trong làng có đám, trẻ con tụng kinh theo sư. Nhưng đồng hồ tay tôi chỉ mười hai giờ kém mười. Và tiếng ấy không ở ngoài làng. Nó ở trong trường.
Tôi cầm đèn pin, mở cửa. Sân gạch ướt sương, lạnh buốt bàn chân. Tiếng đọc rõ hơn một chút khi tôi bước ra sân, vẫn chưa thành lời. Tôi đi dọc hành lang dãy A, rẽ sang dãy B. Đến phòng đầu tiên của dãy B thì tiếng đọc ngừng. Không nhỏ dần. Ngừng, như người ta bịt tay vào miệng.
Năm phòng dãy B tối om, khoá ngoài còn nguyên. Tôi rọi đèn vào từng ô cửa sổ. Bàn ghế thẳng hàng, bảng đen, quạt trần im. Phòng 5A cuối dãy, dưới tán bàng, đèn pin chiếu vào thấy hơi nước đọng mờ cả mặt kính cửa sổ, ở phía bên trong. Chỉ phòng ấy có.
Tôi đứng đó một lúc. Rồi tôi về phòng hội đồng, khoá cửa hai lần, nằm tới sáng không ngủ.
* * *
Bảy giờ sáng, học sinh 5A vào lớp. Tôi đi ngang để ra ăn sáng thì nghe cô Hương chủ nhiệm quát lớp trưởng ngoài hành lang.
"Hạnh, ai bảo em viết sĩ số như thế này?"
Tôi dừng lại nhìn vào. Góc phải bảng đen, chỗ lớp nào cũng kẻ một ô nhỏ ghi sĩ số, có hai dòng chữ phấn trắng. Chữ nghiêng đều, nét thanh nét đậm, kiểu chữ dạy trong trường sư phạm ba mươi năm trước. Số bốn viết kín đầu, như một hình tam giác có chân.
Sĩ số: 24
Vắng: 1
Lớp 5A có ba mươi mốt học sinh. Con bé Hạnh mếu máo bảo chiều qua em viết ba mươi mốt, vắng không, lau bảng sạch rồi mới về. Cô Hương lấy giẻ xoá, tay xoá mạnh, phấn bay trắng ống tay áo.
Bác Tích đứng sau lưng tôi lúc nào không hay. Bác nhìn chỗ bảng vừa xoá, nói nhỏ, không nhìn tôi:
"Thầy đừng để cô ấy xoá. Để yên, tự nó mất. Xoá thì mai nó lại viết."
Rồi bác quay đi. Tôi hỏi với theo, ai viết. Bác không dừng bước, không ngoảnh lại.
"Thầy nghe rồi còn gì."