Chương 3: Không ai nhắc trường cũ
Khoảng 4 phút đọc·10lượt xem
Hôm sau, giữa giờ ra chơi, tôi sang phòng hiệu trưởng hỏi cô Lan về cái trường cũ. Trước năm 1998 trẻ con Yên Khê học ở đâu. Cô Lan đang xếp sổ điểm, trả lời không ngẩng lên.
"Trường cũ ở xóm Đình, nhà cấp bốn, dột nát, xã xây lại ở đây vì đất này của xã, rộng."
Tôi hỏi đất này là nghĩa địa cũ thì lúc xây có di dời mộ không. Cô bảo có, di dời hết, cúng đủ lễ, sư thầy chùa làng làm ba ngày. Rồi cô ngẩng lên.
"Thầy Hoàng, thầy về đây dạy học. Chuyện nhà cửa đất cát của làng, thầy để người làng lo. Tôi nói thế là vì thầy."
Tôi cảm ơn và đi ra. Ở cửa, tôi quay lại hỏi thêm một câu, cô có biết bài thơ năm chữ nào có mũ rơm, có đèn dầu không. Cô Lan nhìn tôi lâu hơn cần thiết rồi lắc đầu. Cái lắc đầu ấy không phải là không biết. Nó là không nói.
* * *
Tuần ấy cô Hương lên gặp hiệu trưởng xin thôi chủ nhiệm lớp 5A. Cô đưa lý do con nhỏ hay ốm, xin chuyển sang lớp 2 ở dãy A. Cô Lan đồng ý ngay, dễ đến mức như đơn đã viết sẵn từ trước. Thầy Đức nhận 5A. Thầy bảo tôi, nửa đùa nửa thật, là năm nào 5A cũng đổi chủ nhiệm giữa kỳ một, có năm đổi hai lần, thành lệ rồi.
Phụ huynh thì không nói gì với giáo viên, nhưng tôi nghe họ nói với nhau ở cổng trường. Một bà đưa cháu đi học bảo bà kia, năm nay lại thế à, rồi hạ giọng. Tôi đi ngang, hai bà im bặt.
Tiết hai sáng thứ Năm, tôi đang dạy toán lớp 4B thì bên kia tường, lớp 5A đọc đồng thanh bài tập đọc. Tiếng đọc kéo dài, rời nhau ở cuối câu, cái nhịp quen đến mức tôi cầm viên phấn mà tay đứng lại giữa bảng. Mất mấy giây tôi mới nhớ ra là đang ban ngày, nắng đổ đầy hành lang, và ba mươi mốt đứa bên ấy còn sống.
Học sinh của tôi ngẩng lên nhìn. Tôi viết tiếp phép chia. Viên phấn gãy đôi.
Giờ ra chơi, tôi đứng dưới gốc bàng nhìn vào cửa sổ 5A. Trong nắng, cửa kính khô, trong, nhìn rõ từng cái bàn. Chỉ có ô kính dưới cùng bên trái, ô sát nền nhà nhất, còn đọng một lớp hơi mờ ở phía trong, như có ai ngồi dưới sàn thở vào đó suốt đêm chưa tan hết.
* * *
Buổi chiều tôi ra quán nước bà Tư ở cổng làng. Bà Tư ngoài sáu mươi, bán hàng xén kiêm nước chè, biết mọi chuyện trong xã. Tôi uống hết hai chén chè mới hỏi, giọng làm như tiện mồm, rằng trường cũ Yên Khê ngày xưa ở đâu.
Bà Tư rót chè, không nhìn tôi.
"Cậu hỏi trường cũ nào. Trường ở xóm Đình là trường sau. Còn trường trước nữa thì cậu đang dạy trên nền nó đấy."
Tôi im. Bà Tư kể tiếp, nhỏ, như kể chuyện ai đó ốm. Trường trước nữa là nhà tranh vách đất, có từ hồi hoà bình lập lại, cũng ở chỗ gốc bàng ấy, bàng trồng năm khánh thành trường. Rồi chiến tranh, rồi trường mất, xã dựng tạm mấy gian ở xóm Đình, học ở đó hơn hai chục năm. Mãi năm chín tám có tiền nhà nước mới về đất cũ xây lại.
Tôi hỏi trường mất vì sao. Bà Tư đặt ấm chè xuống.
"Cậu muốn biết thì hỏi ông giáo Cẩn. Ông ấy dạy ở trường ấy từ hồi còn tranh tre. Nhà ông ấy ở cuối xóm Chùa, cái nhà có hàng cau. Nhưng mà cậu này."
Bà nhìn tôi, lần đầu tiên nhìn thẳng từ lúc tôi ngồi xuống.
"Làng này nhà nào cũng có người nằm dưới ấy. Người ta không nhắc, không phải vì quên. Cậu đừng hỏi lung tung, rồi người ta lại khó xử với cậu."
* * *
Nhà ông giáo Cẩn ở cuối xóm Chùa, một gian nhà ngói cũ, hàng cau trước sân, bể nước mưa có nắp gỗ. Ông ngoài bảy mươi, gầy, lưng còng một chút, mặc áo bông tàu màu xám dù trời mới chớm lạnh. Ông đang ngồi sửa cái quạt nan ở hiên thì tôi dắt xe vào. Tôi chào, nói mình là giáo viên mới về trường tiểu học, quê bên Thuận Thành.
Ông Cẩn ngước lên. Ông nhìn mặt tôi lâu lắm, lâu đến mức tôi tưởng ông lãng tai, định nói lại. Rồi ông bảo tôi ngồi xuống bậc hiên, vào nhà lấy ra cái điếu bát và một ấm nước vối.
Tôi kể. Kể về đêm trực, tiếng đọc, góc bảng, mùi dầu hoả. Ông Cẩn nghe, không hỏi xen, không gật, chỉ xoay xoay cái xe điếu trong tay. Khi tôi kể đến chỗ tiếng đọc ngừng giữa câu, tay ông dừng lại.
Tôi mở cuốn sổ tay, định đọc mấy mảnh câu ghi được. Ông Cẩn đưa tay ngăn.
"Anh đừng đọc. Để tôi hỏi."
Ông đặt cái xe điếu xuống, nhìn ra hàng cau. Giọng ông thấp, chậm, như người đi trên gạch ướt.
"Anh nghe đến câu nào rồi?"
Tôi nói câu có máy bay. Ông Cẩn nhắm mắt lại. Khi ông mở mắt, ông hỏi câu thứ hai, và câu ấy làm lạnh gáy tôi hơn mọi thứ tôi đã nghe ở trường.
"Thế câu sau đó, anh có tự đọc ra được không?"