Chương 10: Về đúng cửa
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Tôi không bước vào phòng 47 đêm ấy. Tôi đứng ở hành lang, nhìn qua khe cửa hé, rồi nói vào chỗ tối, giọng nhỏ như nói với người đang ốm:
"Anh biết rồi. Mai anh đưa mẹ em ra."
Tiếng gõ trong cánh cửa dừng lại. Cánh cửa từ từ khép vào, kêu một tiếng két dài, như có người bên trong đẩy nó về chỗ cũ.
Đêm ấy bên kia tường không gõ.
* * *
Sáng hôm sau tôi đánh điện về bưu điện xã Tam Quang. Hai ngày sau bà Nhàn ra, đi chuyến xe sớm nhất, tay xách một cái làn cói. Trong làn có một cái bát hương mới, một bó hương, mấy quả cam, và đôi dép tổ ong mới tinh vẫn để trên bàn thờ ở nhà.
Tôi dẫn bà đi gặp ông Chiến trước. Tôi kể chuyện ngôi chùa ở Lại Xuân, đưa ông tờ giấy thầy trụ trì viết tay. Giấy xác nhận ông Nguyễn Văn Khải đã ở chùa từ tháng Năm năm 1995 đến khi mất năm 1999, có đóng dấu của chùa. Ông Chiến đọc đi đọc lại, kính trễ xuống mũi. Tay ông run.
"Thế người chôn ở Áng Dương..."
Ông không nói hết. Ông nhìn bà Nhàn, nhìn cái làn cói, rồi gỡ kính, quay mặt đi.
Ông bảo chuyện giấy tờ, cải táng, sửa tên trên bia, phải lên phường, lên quận, có khi phải lên cả công an thành phố, chưa biết bao giờ mới xong. Nhưng lễ thì làm được ngay. Ông sẽ đứng ra chịu với phường về hai dải giấy niêm phong.
* * *
Chiều hôm ấy, cả dãy tầng bốn đứng ở hành lang. Bà Lựu, ông Chiến, mấy nhà hàng xóm, cả cô Hạnh, không ai báo mà cô cũng đến, mặt tái nhợt. Ông Chiến mở cửa phòng 47.
Bà Nhàn đặt bát hương lên cái bàn thờ trống, đúng chỗ vòng tròn sạch trên mặt gỗ. Bà thắp hương, đặt đôi dép mới dưới chân giường sắt, cạnh cái chậu nhôm. Rồi bà ngồi xuống mép tấm phản, đặt tay lên vệt sẫm hình người, như đặt tay lên lưng con.
"Đức ơi. Mẹ đây. Con nằm nhầm nhà người ta mười năm rồi. Về với mẹ đi con."
Bà gọi ba lần. Lần thứ ba, cái quạt cây ở góc phòng, dây điện vẫn rút, tự quay đầu đi. Từ phía giường, nó chậm chạp quay ra phía cửa.
Bà Lựu đứng ở hành lang bật khóc thành tiếng. Cô Hạnh bịt miệng, quay đi.
Sáng hôm sau, chúng tôi ra Áng Dương. Bà Nhàn thắp hương ở mộ khu C hàng mười hai, khấn với ông Khải một câu xin lỗi vì đã để con mình nằm nhờ chỗ ông. Rồi bà gọi tên con. Tôi đứng sau lưng bà. Ba vết lõm sát chân bia vẫn còn đó. Tôi cúi xuống nhìn kỹ. Trong mỗi vết lõm, có một giọt nước đọng, dù đêm qua trời không mưa.
Bà ôm bát hương về Thái Bình. Tôi tiễn bà ra bến xe. Lúc lên xe bà nắm tay tôi, bảo cảm ơn anh. Bà không hỏi tôi có định ở lại phòng ấy không.
* * *
Một tuần sau đó, bên kia tường im.
Mười một giờ, tôi nằm quay mặt vào tường, chờ. Không có tiếng gõ nào. Không có tiếng huýt sáo. Không có mùi chiếu cói và nước ao tù. Ông Chiến dán lại niêm phong mới cho phòng 47, giấy trắng tinh, con dấu đỏ tươi.
Tôi ngủ được. Tôi đi làm lại, tổ trưởng cho tôi về tổ cũ. Ông Bổng bảo mặt tôi đã có chút máu. Tay tôi lên da non, để lại một vết sẹo dài từ cổ tay xuống lòng bàn tay.
Tôi nghĩ thế là xong. Tôi nghĩ thằng Đức đã về Vũ Thư với mẹ, về cái bàn thờ có ảnh thằng thanh niên răng khểnh.
Tôi đã quên mất một điều. Bà Nhàn gọi con về nhà. Mà ở Hải Phòng, thằng Đức chỉ có một cái nhà. Phòng 46. Phòng của tôi.
* * *
Đêm thứ tám, tôi thức dậy lúc gần sáng vì nghe tiếng xé giấy. Rất khẽ, như đêm đầu tiên.
Tôi bật đèn. Tờ lịch bóc trên cái đinh vẫn treo ở đấy. Nhưng tờ ngày 14 tháng Bảy năm 1995 đã bị xé, nằm dưới chân tường. Tờ đang hiện ra là ngày 15 tháng Bảy.
Dưới gầm giường tôi, đôi dép tổ ong cũ cỡ bốn mốt đã nằm đó, xếp ngay ngắn. Lần này mũi dép không quay vào tường. Nó quay ra ngoài, như dép của người đã về đến nhà, cởi ra để đó.
Tôi ở phòng 46 thêm nhiều năm. Cô Hạnh không lấy tiền nhà nữa. Tờ lịch có sáng mất một tờ, có khi cả tháng không mất tờ nào. Đến giờ, nó vẫn chưa sang tháng Tám năm 1995.
Tối nào trước khi ngủ, tôi cũng quay mặt vào bức tường chung với phòng 47, gõ ba tiếng. Bên ấy giờ chỉ còn bụi và giấy niêm phong mới, không ai đáp.
Rồi tôi nằm im, chờ.
Một lúc sau, sau lưng tôi, từ mép giường phía ngoài, chỗ trống trên tấm chiếu, có ba tiếng gõ lại. Chậm. Đều. Rất gần.
Như người nằm cạnh, gõ cho tôi biết nó vẫn còn đây, để tôi yên tâm mà ngủ.