☾ Truyện Ma Có Thật
← Chuông gọi y tá phòng số 7

Chương 1: Bảng đèn ở phòng trực

Khoảng 4 phút đọc·18lượt xem

Tôi ra trường trung cấp y năm 2004, hai mươi mốt tuổi, xin được một chân y tá hợp đồng ở bệnh viện huyện quê ngoại. Huyện trung du, đồi cọ nối đồi chè, bệnh viện nằm trên một quả đồi thấp cuối thị trấn, đi từ bến xe vào phải qua một con dốc trồng toàn xà cừ. Người trong huyện gọi là "nhà thương trên đồi", mà gọi với cái giọng không mấy tin tưởng, bệnh nặng thì họ thuê xe đi thẳng tỉnh.

Bệnh viện có hai dãy nhà. Khu A hai tầng, ốp gạch men, là bộ mặt của bệnh viện. Khu B ở phía sau, một dãy nhà cấp bốn tường vôi xanh, mái ngói rêu đen, xây từ thời bao cấp, giờ là khoa Ngoại và phòng hậu phẫu. Tôi được phân về khu B.

Khu B có tám phòng bệnh đánh số từ 1 đến 8 dọc theo một hành lang dài. Nhưng người ta chỉ dùng sáu phòng. Phòng 8 cuối cùng là kho chứa giường hỏng và bình oxy rỗng. Phòng 7, ngay trước kho, cửa gỗ đóng, khoá bằng một sợi xích cũ, ổ khoá rỉ đến mức tôi nghĩ không còn chìa nào mở được nữa. Trên cửa còn tấm biển sắt tráng men ghi số 7, sơn trắng, con số đã ố vàng.

Phòng trực y tá ở đầu hành lang. Một cái bàn gỗ, một cái giường xếp, cái phích nước, cuốn sổ giao ban bìa cứng. Trên tường, phía trên bàn, có một cái bảng đèn gọi y tá kiểu cũ. Tám bóng đèn tròn nhỏ màu đỏ xếp thành hàng, dưới mỗi bóng là một con số sơn tay. Bệnh nhân ở phòng nào bấm nút đầu giường thì bóng phòng đó sáng lên, kèm một tiếng chuông "reng" ngắn và khô như tiếng chuông xe đạp.

Chị Lan là y tá trưởng khu B. Chị hơn tôi mười lăm tuổi, người gầy, tóc búi thấp, nói ít, làm việc gì cũng gọn, không bao giờ thấy chị vội. Chị làm ở khu B từ hồi mới ra trường, nghĩa là trước cả khi tôi biết đọc. Người ta bảo chị có thể lên khu A, có thể lên phòng điều dưỡng của bệnh viện, nhưng chị không đi. Chị cứ ở khu B, trực đêm nhiều hơn bất cứ ai.

Đêm trực đầu tiên của tôi là một đêm thứ Ba đầu tháng Mười. Chị Lan trực cùng. Chị dẫn tôi đi một vòng, chỉ từng phòng, từng bệnh nhân, chỗ để cáng, chỗ để thuốc cấp cứu, cầu dao điện ở cuối hành lang. Khi quay về phòng trực, chị chỉ lên bảng đèn, nói bằng cái giọng bình thường như đang dặn tôi khoá cửa kho:

"Bảng cũ, hay chập. Bóng 7 thỉnh thoảng nó sáng. Phòng ấy không có ai. Sáng thì em tắt công tắc tổng, đếm một phút, bật lại. Đừng xuống. Dưới ấy không có việc gì."

Tôi hỏi sao không cắt hẳn dây phòng 7 đi. Chị bảo cắt rồi. Rồi chị không nói gì thêm.

Đêm ấy yên. Phòng 3 có ông lão mổ sỏi thận rên suốt, tôi vào tiêm giảm đau hai lần. Phòng 5 có thằng bé gãy tay đòi mẹ. Quá nửa đêm, tôi ngồi ở bàn trực chép sổ, chị Lan nằm trên giường xếp, quay mặt vào tường, không biết có ngủ không.

Tôi không để ý lúc nào thì mọi thứ im. Chỉ thấy tự dưng ngòi bút sột soạt to quá. Ông lão phòng 3 đã thôi rên. Đám dế ngoài bờ rào cũng thôi kêu, cả một sườn đồi lặng đi như ai úp cái nồi lên. Hơi lạnh từ khe cửa luồn vào cổ chân tôi, lạnh kiểu nền xi măng giữa mùa đông, dù trời đang tháng Mười.

Rồi một tiếng "reng".

Tôi ngẩng lên. Bóng đèn số 7 đang sáng. Không chớp, không yếu như kiểu chập điện. Sáng đều, đỏ, như một con mắt.

Tôi đứng bật dậy theo phản xạ nghề nghiệp, tay đã với lấy cái đèn pin. Rồi tôi nhớ lời chị Lan. Tôi đứng giữa phòng trực, đèn pin trong tay, nghe tim mình đập lên tận mang tai. Chỉ có tiếng quạt trần quay và cái bóng đỏ ấy.

"Tắt đi em."

Chị Lan nói, vẫn quay mặt vào tường. Giọng chị tỉnh như chưa hề ngủ.

Tôi với tay lên hộp công tắc tổng cạnh bảng. Tay trượt một lần, móng tay quệt vào vỏ hộp, lần thứ hai mới gạt được xuống. Tám bóng đèn tắt hết. Tôi đếm đến sáu mươi, gạt lên. Bảng sáng lại một giây để thử bóng rồi tắt. Bóng số 7 tắt theo.

Tôi quay lại bàn, ngồi xuống, tay vẫn còn hơi run. Chị Lan vẫn nằm im. Một lúc sau chị nói, nhỏ, như nói với bức tường:

"Lần nào cũng thế. Em quen đi là được."

Tôi hỏi, thế là thế nào, sao tự dưng cả dãy im phắc như vậy. Chị không trả lời. Và tôi, hai mươi mốt tuổi, đêm trực đầu tiên, cũng không dám hỏi thêm. Tôi ngồi chép nốt cuốn sổ giao ban, chữ xiêu vẹo, và cố không nhìn lên bức tường trước mặt.

Sáng hôm sau, lúc giao ca, tôi đi dọc hành lang ra cổng sau để về. Đi qua phòng 7, tôi dừng lại nhìn sợi xích. Nó vẫn khoá. Bụi phủ trên ổ khoá dày như mọi khi. Nhưng ở dưới khe cửa, trên nền xi măng, có một vệt nước nhỏ, dài chừng gang tay, như ai vừa trong phòng hắt nước ra. Trời đêm qua không mưa.

Tôi về nhà trọ ngủ một mạch tới chiều. Trong giấc ngủ tôi cứ nghe tiếng chuông, mỗi lần một dài hơn, kéo ra mãi thành một tiếng rên, mà không sao dậy để tắt được.