☾ Truyện Ma Có Thật
← Chuông gọi y tá phòng số 7

Chương 2: Ông cụ ở ghế đá

Khoảng 4 phút đọc·18lượt xem

Khu B có một cái sân nhỏ lát gạch, giữa sân là cây ngọc lan già, dưới gốc có hai cái ghế đá do một nhà hảo tâm nào đó tặng từ lâu, chữ khắc trên lưng ghế đã mờ. Ban ngày người nhà bệnh nhân ngồi đó ăn cơm nắm, quạt cho nhau. Ban đêm sân vắng, chỉ có một bóng đèn vàng treo ở hiên hắt ra một quầng sáng không tới được gốc cây.

Tôi gặp ông cụ lần đầu vào đêm trực thứ ba.

Quãng sương bắt đầu xuống, tôi ra sân đổ bô cho bệnh nhân phòng 2. Ông ngồi ở cái ghế đá bên trái, lưng còng, hai tay đặt trên đầu gối. Bộ quần áo bệnh nhân sọc xanh trên người ông đã bạc gần thành trắng, kiểu vải thô mà bệnh viện tôi không còn phát từ lâu. Ông gầy, đầu trọc lốc, da mặt xám và nhăn như vỏ quả cọ già. Thấy tôi, ông ngẩng lên, và hỏi, giọng khàn khàn, lễ phép:

"Cô y tá ơi, phòng 7 có ai gọi không?"

Tôi bảo phòng 7 không có bệnh nhân, bác ạ. Ông gật gật, như đã biết trước câu trả lời, rồi lại cúi xuống nhìn hai bàn tay mình. Tôi hỏi ông nằm phòng nào, sao giờ này còn ngồi ngoài sương. Ông nói:

"Tôi chờ... người ta đến. Người ta bảo đợi tí."

Tôi nghĩ ông là bệnh nhân lú lẫn của khu A đi lạc sang. Tôi bảo ông ngồi yên để tôi gọi bảo vệ dẫn về. Ông "vâng". Tôi đi vào phòng trực gọi điện xuống cổng. Bác Thái bảo vệ lên ngay, đèn pin trên tay, hai người ra sân.

Ghế đá trống. Cả hai cái.

Bác Thái quét đèn pin một vòng quanh sân, soi cả lên tán ngọc lan. Không có ai. Cổng sau khoá, tường rào cao quá đầu người. Bác hỏi tôi ông cụ trông thế nào. Tôi tả. Bác Thái nghe xong không nói gì, tắt đèn pin, bảo tôi vào trong đi, sương xuống rồi, và đi về cổng hơi nhanh hơn lúc đến.

Đêm trực sau, tôi lại thấy ông. Vẫn ghế bên trái. Lần này ông không hỏi, chỉ ngẩng lên nhìn tôi, và tôi biết ông đang đợi câu trả lời cho câu hỏi đêm trước. Lần này tôi không gọi bảo vệ. Tôi đứng ở hiên, cách ông chừng mười bước, và hỏi tên ông.

"Mậu. Lê Văn Mậu. Xóm Đồi Ngô, xã Tân Lập."

Tôi hỏi ông vào viện bị gì. Ông bảo mổ ruột thừa. Tôi hỏi mổ bao giờ. Ông ngẩng lên nhìn tôi rất lâu, rồi nói:

"Hôm qua... hôm qua thì phải. Đau lắm cô ạ. Từ chập tối. Bấm mãi."

Rồi ông cúi xuống. Tôi quay vào gọi điện xuống cổng để bác Thái nghe thấy tiếng tôi, chứ không phải để bác lên. Khi tôi quay ra, ghế đá lại trống.

Sáng hôm ấy tôi không về nhà trọ. Tôi xuống phòng hành chính xin xem sổ vào viện cũ. Cô văn thư nhìn tôi lạ, nhưng vẫn mở kho cho.

Sổ vào viện đóng theo năm, bìa carton, chữ viết tay, gáy sổ nào cũng mốc trắng. Tôi tìm từ năm 2003 lùi lại. Không có Lê Văn Mậu. 2002, 2001, 2000, không. 1999, không.

Năm 1998, tháng Bảy, dòng thứ mười sáu: Lê Văn Mậu, 64 tuổi, Đồi Ngô, Tân Lập. Chẩn đoán vào viện: viêm ruột thừa cấp. Khoa Ngoại, khu B, phòng 7. Cột "ra viện" ghi một chữ bằng mực khác, nét run: "Tử vong".

Tôi ngồi xuống cái ghế nhựa trong kho hồ sơ, tay lạnh toát. Cô văn thư đứng ở cửa hỏi tôi có sao không. Tôi hỏi cô có nhớ ca này không. Cô bảo cô về bệnh viện năm 2000, không biết. Nhưng cô nói thêm, giọng hạ xuống:

"Cái phòng ấy khoá từ trước tôi về cơ. Nghe đâu có ông chết oan, gọi mãi chả thấy y tá đâu. Chuyện ấy thì... hỏi chị Lan trên khu B. Mà chị ấy có kể với ai bao giờ."

Trưa đó tôi lên khu B, định hỏi chị Lan. Chị đang thay băng cho bệnh nhân phòng 4, tay thoăn thoắt, mặt bình thản. Tôi đứng ở cửa nhìn chị. Và tôi nhận ra một điều đã thấy từ lâu mà không để ý: mỗi khi đi qua phòng 7, chị Lan không bao giờ nhìn vào cánh cửa. Chị nhìn thẳng, bước đều, như đi qua một bức tường trống. Người ta không tránh nhìn một bức tường. Người ta chỉ tránh nhìn một thứ mình đã nhìn quá nhiều lần.

Tôi không hỏi. Tôi về nhà trọ, và đêm đó, lần đầu tiên từ khi đi làm, tôi khoá cửa phòng hai lần.