Chương 5: Ca trực cuối của chị Lan
Khoảng 5 phút đọc·18lượt xem
Đêm 14 tháng Mười Một trời khô và lạnh, cái lạnh đầu mùa của trung du, sương xuống sớm phủ trắng sân khu B. Chị Lan đến trực sớm hơn thường lệ. Chị mặc áo blouse mới, là phẳng, tóc búi gọn hơn mọi ngày. Chị mang theo một cái túi vải nhỏ, đặt dưới gầm bàn trực, không nói trong đó có gì.
Khu B đêm ấy có bốn bệnh nhân, đều nhẹ. Chị đi một vòng, dặn dò từng người, ân cần hơn mọi khi, như thể chào họ. Rồi chị về phòng trực, ngồi xuống bàn, mở sổ giao ban, viết. Tôi ngồi đối diện, không dám hỏi.
Quá khuya, chị bảo tôi pha trà. Chúng tôi uống trà, nói chuyện vu vơ. Chị kể hồi mới về bệnh viện, khu B còn trồng rau sau nhà, các chị y tá hay hái rau nấu canh ăn đêm. Kể chuyện Thảo hay hát, hát rất hay, bài gì cũng thuộc. Chị cười, một nụ cười tôi chưa từng thấy ở chị. Rồi chị im lặng.
Ấm trà nguội hẳn thì chị lấy cái túi vải dưới gầm bàn ra. Trong túi là một cái kìm cộng lực, loại thợ điện dùng cắt cáp, và một cái đèn pin mới.
"Chị mượn của bác Thái." Chị nói. "Không có chìa thì cắt xích."
Tôi hỏi chị định làm gì. Chị bảo chị định vào phòng 7. Tôi bảo chị đừng. Chị nhìn tôi, dịu dàng:
"Sáu năm rồi em ạ. Ông ấy gọi sáu năm. Chị đi mà chưa đến lần nào thì..."
Chị không nói hết. Ngoài hiên, con thạch sùng đang tặc lưỡi bỗng thôi. Hơi trà trong chén tôi đứng yên, không bốc lên nữa, và một mùi cồn sát trùng cũ, mùi của những cuộn bông để lâu trong tủ, từ hành lang tràn vào. Rồi tiếng "reng".
Bóng đèn số 7 sáng. Lần này không đỏ gắt như đêm đầu, không giật như đêm mất điện. Nó sáng lên chậm, như có ai ấn nút rất nhẹ, sợ làm phiền. Chị Lan đứng dậy. Chị không nhìn bảng đèn. Chị cầm kìm và đèn pin, mở cửa phòng trực, bước ra hành lang. Đi được ba bước chị quay lại:
"Em ở đây. Đèn mà tắt thì em biết là chị đến nơi rồi."
Tôi đứng ở cửa phòng trực nhìn theo. Hành lang dài, đèn vàng, chị Lan đi đều, lưng thẳng, bóng đổ dài trên nền xi măng. Qua phòng 3, phòng 5, phòng 6. Đến trước phòng 7 chị dừng lại. Tôi nghe tiếng kìm cắn vào xích, một tiếng "cắc" khô, rồi tiếng xích rơi loảng xoảng xuống nền. Tiếng bản lề rít. Cánh cửa mở.
Tôi đã hứa ở lại. Nhưng tôi đi. Tôi đi dọc hành lang, chân không có cảm giác chạm đất, và dừng lại cách cửa phòng 7 một quãng, đủ để nhìn vào.
Trong phòng có một cái giường sắt. Chỉ một cái, nệm đã mục, khung rỉ. Trên đầu giường, cái nút chuông bằng nhựa đen vẫn còn, dây lòng thòng. Chị Lan đặt đèn pin xuống nền, chiếu lên trần, cả căn phòng sáng một thứ ánh sáng lờ mờ. Chị kéo cái ghế đẩu gãy một chân ở góc phòng, đặt bên giường, ngồi xuống. Chị ngồi nghiêng, đúng tư thế một y tá ngồi cạnh bệnh nhân.
Rồi chị nói. Giọng chị bình thường, nhỏ, rõ, giọng chị vẫn dùng để nói với người bệnh.
"Bác Mậu. Tôi là Lan, y tá trực. Tôi đến rồi."
Tôi không nhìn thấy ai trên giường. Nhưng cái dây chuông đang đung đưa. Nhẹ, chậm, như vừa có ai buông nó ra.
"Tôi xin lỗi bác. Tôi ngủ quên. Bác gọi mà tôi không đến. Tôi đến muộn sáu năm."
Căn phòng lặng. Tiếng quạt trần ở phòng trực vọng tới rất xa. Chị Lan ngồi im. Rồi chị đưa tay ra, đặt lên nệm, chỗ đáng lẽ là một bàn tay người bệnh, và chị cầm lấy. Tôi thề là tôi thấy các ngón tay chị khép lại quanh một cái gì đó.
"Bác ngủ đi. Giờ có người ở đây rồi. Tôi ngồi với bác đến sáng."
Phía sau tôi, trong phòng trực, tiếng "reng" vang lên một lần nữa. Một tiếng, ngắn. Rồi hết. Tôi quay đầu nhìn về đầu hành lang. Qua cửa phòng trực để mở, tôi thấy bảng đèn. Bóng số 7 đã tắt.
Khi tôi quay lại, chị Lan vẫn ngồi đó, tay vẫn đặt trên nệm, lưng thẳng. Chị không khóc. Chị ngồi như thế đến sáng, như chị đã hứa.
Năm giờ rưỡi tôi vào gọi chị. Chị ngẩng lên, mắt đỏ nhưng sáng, bảo tôi ra sân với chị một tí. Chúng tôi ra sân. Sương đã loãng. Hai cái ghế đá dưới gốc ngọc lan ướt đẫm, không có ai ngồi.
"Ông ấy về rồi." Chị nói.
Chị Lan nghỉ việc sau đó một tuần, về quê chồng ở Tuyên Quang, thỉnh thoảng gửi cho tôi một túi chè. Phòng 7 được dọn, quét vôi, kê giường mới. Bảng đèn cũ người ta tháo ra thay bảng mới, có loa gọi. Lúc thợ vứt bảng cũ ra bãi rác sau kho, tôi nhặt lại cái bóng số 7, bọc giấy báo, cất vào đáy va li, cạnh mấy tờ giấy tôi đã viết.
Tôi làm ở khu B thêm mười sáu năm, lên y tá trưởng, rồi chuyển lên tỉnh. Năm ngoái chị Lan mất, bệnh tim, mất trong giấc ngủ. Bàn thờ chị có một tấm ảnh chị mặc áo blouse trắng, chụp ở sân khu B, dưới gốc ngọc lan. Con gái chị bảo mẹ dặn dùng ảnh ấy.
Tháng trước tôi có việc về huyện, ghé qua bệnh viện cũ. Khu B giờ đã thành nhà kho vật tư, cửa khoá, cỏ mọc lên tận hiên. Cây ngọc lan vẫn còn. Hai cái ghế đá vẫn còn.
Tôi đứng ở sân một lúc, chiều muộn, không có ai. Và lúc quay ra, tôi thấy ở ghế đá bên trái, cái ghế ông cụ vẫn ngồi, có một người đàn bà gầy, tóc búi thấp, mặc áo blouse trắng, đang ngồi nhìn về phía hành lang khu B. Nhìn về phía phòng 7.
Tôi không gọi. Tôi đứng yên, và người ấy không quay lại.
Tôi đi ra cổng. Đến con dốc xà cừ tôi mới dám quay đầu. Ghế đá trống. Sân vắng. Nhưng trong cái cửa sổ phòng trực cũ có một chấm đỏ. Nó không nằm ở chỗ bảng đèn ngày xưa treo mà lệch xuống thấp, ngang tầm một cái bàn trực, mờ như than sắp tàn. Lóe lên một lần rồi tắt.
Tối ấy về đến nhà, tôi mở va li. Cái bóng số 7 vẫn nằm trong lớp giấy báo đã giòn. Tôi cầm lên. Bóng ấm, ấm như vừa tắt.
Giờ nó nằm trên đầu giường tôi, cạnh cái điện thoại. Đêm nào trước khi ngủ tôi cũng nhìn nó một lúc, và tôi không tắt hẳn đèn ngủ nữa.