Chương 4: Trang bệnh án bị xé
Khoảng 5 phút đọc·18lượt xem
Hồ sơ bệnh án lưu ở kho tầng hầm khu A, một căn phòng thấp, ẩm, xếp đầy những thùng carton ghi năm bằng bút dạ. Tôi mất ba buổi trưa mới tìm được thùng "1998 – Ngoại". Bệnh án của Lê Văn Mậu nằm gần cuối, kẹp trong bìa giấy xi măng, mỏng, chỉ chừng mười trang.
Tôi đọc từng trang dưới ánh đèn tuýp nhấp nháy.
Vào viện ngày 14 tháng Bảy, mười giờ sáng, đau hố chậu phải, sốt nhẹ. Chẩn đoán viêm ruột thừa cấp. Mổ lúc ba giờ chiều, bác sĩ Hùng mổ, ca mổ ghi "thuận lợi". Chuyển về phòng 7 khu B lúc năm giờ. Y lệnh: theo dõi mạch, huyết áp mỗi hai giờ, truyền dịch, kháng sinh.
Phiếu theo dõi tối 14 tháng Bảy có hai dòng. Tám giờ: mạch 88, huyết áp 120/70, bệnh nhân tỉnh. Mười giờ: mạch 92, huyết áp 115/70, "than đau vết mổ, đã dùng giảm đau". Chữ ký y tá ở cả hai dòng là một chữ ký gọn, nghiêng trái, mà tôi nhận ra ngay. Tôi đã thấy nó hàng trăm lần trong sổ giao ban. Chữ ký của chị Lan.
Dưới dòng mười giờ, phiếu theo dõi trống. Không có dòng mười hai giờ. Không có hai giờ. Không có bốn giờ.
Dòng tiếp theo là sáu giờ sáng ngày 15, chữ khác, nét run và to: "Bệnh nhân tím tái, mạch không bắt được, huyết áp không đo được. Đồng tử giãn. Bụng chướng căng. Báo bác sĩ." Rồi một dòng của bác sĩ Hùng: "Tử vong lúc 6 giờ 10. Nghi chảy máu trong ổ bụng sau mổ."
Trang cuối bệnh án là biên bản kiểm thảo tử vong. Nhưng trang ấy đã bị xé. Chỉ còn mép giấy răng cưa dính ở gáy. Trên trang trước đó, chỗ mực của trang bị xé thấm sang, tôi đọc được lờ mờ một đoạn in ngược: "...y tá trực không có mặt tại khu B từ khoảng 23 giờ đến..."
Tôi gấp bệnh án lại. Ngồi một lúc. Rồi tôi nghe tiếng dép sau lưng.
Chị Lan đứng ở cửa kho. Chị không có vẻ ngạc nhiên. Chị nhìn cái bìa giấy xi măng trong tay tôi, rồi kéo cái ghế nhựa khác ngồi xuống đối diện. Chị im lặng rất lâu, lâu đến mức tôi nghĩ chị sẽ đứng dậy đi mất. Rồi chị nói.
"Đêm ấy có hai người trực. Chị và Thảo."
Thảo cùng khoá với chị, về bệnh viện cùng năm. Xinh, vui tính, cả khu B quý. Thảo có người yêu lái xe tải chạy tuyến tỉnh, mỗi tháng về một lần. Đêm 14 tháng Bảy anh ấy về. Thảo xin chị cho đi gặp một tiếng, "em về trước mười hai giờ".
Chị đồng ý. Khu B hôm ấy có năm bệnh nhân, đều ổn. Ông Mậu vừa mổ xong nhưng mạch huyết áp tốt, mới dùng giảm đau, chị nghĩ ông sẽ ngủ.
Chị ngồi ở bàn trực chép sổ. Hôm ấy chị trực liền ca thứ ba trong tuần vì khu B thiếu người. Khoảng mười một giờ chị gục xuống bàn.
"Chị ngủ. Ngủ như chết. Không mơ gì cả."
Chị tỉnh dậy lúc gần sáu giờ vì tiếng gà gáy ở xóm dưới đồi. Việc đầu tiên chị nhìn là cái bảng đèn. Bóng số 7 đang sáng. Chị không biết nó đã sáng bao lâu. Chị chạy xuống phòng 7.
"Ông ấy nằm nghiêng, quay mặt ra cửa. Một tay vẫn nắm cái dây chuông. Nắm chặt lắm, chị phải gỡ từng ngón. Mắt ông ấy mở, nhìn ra cửa. Nhìn đúng chỗ chị đứng."
Thảo về lúc sáu giờ rưỡi. Ca kiểm thảo tử vong sau đó kết luận ông Mậu chảy máu trong, nếu phát hiện trong vòng hai ba tiếng sau khi đau thì có thể mổ lại cứu được. Y tá trực không có mặt, hoặc có mặt mà không theo dõi. Thảo nhận lỗi bỏ ca. Chị Lan nhận lỗi ngủ quên. Cả hai bị kỷ luật, cắt thi đua, chuyển sang làm hành chính nửa năm. Gia đình ông Mậu ở xóm Đồi Ngô nghèo, không kiện cáo gì, chỉ lên nhận xác đem về, con trai ông đứng ở cửa phòng 7 nhìn chị một cái rồi đi.
"Thế trang biên bản, ai xé?"
"Thảo. Hôm nó quay lại khu B. Nó bảo... để đừng ai đọc thấy tên nó trong ấy nữa. Chị biết. Chị không nói."
Tháng Bảy năm 1999, đúng ngày giỗ đầu ông Mậu, Thảo đi xe máy từ thị trấn về nhà mẹ đẻ, qua đoạn đê sông Lô. Trời không mưa, đường vắng. Người ta tìm thấy xe ở mép đê và Thảo ở dưới bãi, không có vết phanh. Không ai biết vì sao.
"Sau hôm ấy chị cắt dây phòng 7. Khoá cửa, vứt chìa xuống giếng sau kho. Chị cứ tưởng thế là xong."
Nhưng bóng đèn số 7 vẫn sáng. Tháng nào cũng có vài đêm, cứ vào cái quãng cả khu B lặng đi, dế thôi kêu, hơi lạnh bò dọc nền hành lang. Chị đã thử thay bảng, thợ điện bảo bảng không có điện vào bóng 7 mà vẫn sáng thì không phải việc của thợ điện. Chị đã thử mời thầy về cúng ở sân khu B, thầy làm lễ xong nhìn chị, bảo người ta không gọi thầy, người ta gọi y tá.
"Sao chị không đi khỏi đây?" Tôi hỏi.
Chị Lan nhìn tôi, và trả lời một câu mà tôi nhớ cho đến tận bây giờ, hơn hai mươi năm sau:
"Đèn ấy sáng thì phải có người thấy. Phải có người biết là ông ấy gọi. Thảo đi rồi. Chị mà đi nốt... thì ông ấy bấm cho ai."
Chị đứng dậy, cầm lấy bệnh án từ tay tôi, cất lại vào thùng. Lúc ra đến cửa chị quay lại, nói thêm, giọng rất bình thường:
"Tháng sau chị nghỉ. Đơn duyệt rồi. Ca cuối của chị là đêm 14. Em trực với chị nhé."
Tôi gật đầu. Về đến nhà trọ tôi mới sực nhớ những dòng chữ dưới ánh đèn tuýp: ông Mậu vào viện ngày 14, mổ ngày 14, bấm chuông đêm 14. Chị Lan không chọn ngẫu nhiên.