Chương 1: Trạm Khe Mây
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Tôi lái xe trên Trường Sơn từ cuối năm 1967 đến hết năm 1971. Bốn năm, ba chiếc xe, không đếm nổi bao nhiêu hố bom. Ai hỏi tôi nhớ gì nhất, tôi hay nói nhớ mùi dầu máy lẫn mùi lá mục, nhớ tiếng máy Zin gầm lên lúc leo dốc. Có một thứ tôi không nói. Đó là mảnh vải trắng ở trạm Khe Mây.
Tháng Năm năm 1969, đại đội tôi mười hai xe được lệnh chở hàng qua một cung đường mới bên kia biên giới, đất bạn. Hàng là gạo, đạn, mấy hòm thuốc, phủ bạt kín, trên bạt cài cành lá ngụy trang. Tôi lái chiếc Zin ba cầu số mười một. Phụ xe là thằng Lợi, người Đô Lương, mười chín tuổi, nói nhiều hơn làm.
Xe đi đầu là của anh Mạc, tiểu đội trưởng, quê Thanh Miện, Hải Dương. Anh Mạc gầy, ít nói, hút thuốc lào bằng cái điếu ống bương mang từ quê vào. Anh chạy đường này từ trước chúng tôi, chỉ có hỏi về Khe Mây là anh lảng đi.
* * *
Trạm Khe Mây nằm dưới một vách đá vôi, cách trọng điểm Ngầm Đá Trắng chừng bốn cây số. Trạm có năm sáu cái lán lợp lá cọ, mấy cái hầm chữ A, một cái bếp Hoàng Cầm khói bò sát mặt đất rồi tan vào bụi cây. Sau trạm có một con suối nhỏ, nước trong, lạnh buốt cả mùa khô.
Trạm trưởng là anh Quỳ, người Hương Khê, Hà Tĩnh, chừng bốn mươi tuổi. Anh chột mắt trái. Hốc mắt khâu kín, mí còn hồng, chưa lên da non hẳn. Lợi hỏi anh bị hồi nào. Anh nói tháng Ba, rồi quay sang bảo anh nuôi nấu thêm hai nồi cơm.
Tối đầu tiên anh Quỳ gọi các lái xe ra trước hầm chỉ huy. Anh không trải bản đồ. Anh chỉ tay về phía tây, nơi con đường đất đỏ chui vào một thung lũng trọc.
"Qua Ngầm Đá Trắng là sáu cây số trống trơn. Ban ngày nó đánh, đêm nó thả pháo sáng. Các cậu đi đêm, không đèn, theo giao liên của trạm."
Anh dừng một lúc, như cân chữ.
"Giao liên tên Nhạn. Cứ nhìn cái lưng o ấy mà đi. Đừng nhìn chỗ khác."
* * *
Tôi không thấy cô đến. Lúc trời vừa sẫm, tiếng ve tắt, tôi quay ra đầu con đường mòn thì cô đã đứng đó. Người nhỏ, áo cánh nâu bạc màu, quần đen xắn tới gối, chân đất. Tóc tết một bím, gài gọn trong cái mũ tai bèo. Sau lưng áo có khâu một mảnh vải trắng cỡ cái khăn mặt, bốn góc đính chỉ đen.
Mảnh vải không sạch hẳn. Ở góc dưới bên phải có một vệt màu nâu sẫm, chạy xiên, như người ta quệt bùn rồi giặt mãi không ra. Tôi nghĩ giao liên thì lăn lê bùn đất, vết bẩn có gì lạ.
Cô không chào ai. Không hỏi xe nào chở gì. Cô đứng quay lưng về phía đoàn xe, mặt hướng vào thung lũng tối. Anh Mạc nổ máy trước. Mười một chiếc nổ theo. Cô bước đi.
Đêm ấy không trăng. Tôi tắt cả đèn gầm, chỉ còn nhìn được cái đuôi xe anh Mạc phía trước. Và xa hơn, trước mũi xe anh Mạc, mảnh vải trắng. Nó không sáng, nhưng giữa bóng đêm nó cứ hiện ra mờ mờ, như một mảng sương đọng lại không chịu tan.
Cô đi nhanh mà không chạy. Không cầm đèn. Không ngoái lại. Xe chúng tôi lăn bánh số một, máy gầm nhỏ, bánh nghiến lên sỏi đá vôi. Hai bên đường là hố bom nối hố bom, nước đọng dưới đáy bốc lên mùi khét chua của thuốc nổ.
Có lúc phía xa, chỗ dãy núi bên kia, pháo sáng thả xuống. Ánh vàng đục trôi lững lờ, lắc lư dưới cái dù. Mảnh vải trắng dừng lại. Một cánh tay giơ lên. Cả đoàn phanh, tắt máy, ngồi im trong ca-bin nghe tiếng máy bay vè vè trên đầu. Lợi bám tay vào bảng đồng hồ, thở bằng miệng.
Pháo sáng tắt. Cánh tay hạ xuống. Mảnh vải lại đi.
Đến ngầm, nước chỉ ngập nửa bánh. Đá dưới ngầm trắng nhờ, trơn như mỡ. Cô lội qua trước, nước không bắn lên một giọt nào, tôi để ý vì tôi đang căng mắt nhìn chân cô để biết chỗ nào nông. Bánh xe tôi trượt một cái, Lợi kêu khẽ. Rồi bám được, rồi lên bờ.
* * *
Gần sáng, đoàn qua hết trọng điểm, dồn vào một khu rừng già phía bên kia, xe đậu dưới tán cây.
Tôi thấy cô đi dọc đoàn xe, từ cuối lên đầu. Đến mỗi xe cô dừng lại, đặt bàn tay lên nắp ca-pô, giữ một chút rồi đi tiếp. Môi cô mấp máy như đếm. Tôi nghe được tiếng "mười một" lúc cô đặt tay lên xe tôi. Rồi tiếng "mười hai" ở xe số mười hai phía trước.
Đến xe anh Mạc, xe đầu, cô đi thẳng qua. Không dừng. Không đặt tay. Cô đi vào rừng, bóng áo nâu lẫn vào thân cây, mảnh vải trắng nhỏ dần rồi mất.
Tôi nghĩ cô sót. Trời tối, ai mà chẳng sót.
Lúc trời sáng hẳn tôi mở ca-pô kiểm tra nước làm mát. Tay tôi khựng lại trên nắp.
Ở giữa nắp ca-pô có một dấu bàn tay. Bàn tay nhỏ, năm ngón thon, ướt. Nước còn đọng thành giọt ở đầu ngón, lấp lánh, như vừa mới áp xuống. Mà máy vừa chạy suốt đêm, nắp ca-pô nóng tới mức tôi đặt tay vào phải rụt lại.
Tôi đứng chờ. Nắng xuyên qua tán lá rọi xuống nắp xe. Dấu tay không khô. Lợi đi tới, chạm một ngón tay vào dấu, rồi đưa lên mũi ngửi.
"Lạnh như nước giếng, anh Thản nờ. Tanh tanh mùi đá nữa."
Tôi đi dọc đoàn xe. Xe nào cũng có một dấu tay như vậy, cùng một chỗ, giữa nắp ca-pô, ướt sũng dưới nắng.
Trừ xe anh Mạc.
Nắp ca-pô xe anh chỉ có bụi đá vôi phủ một lớp mỏng, trắng xám, phẳng lì. Anh Mạc đứng trước mũi xe, nhìn cái nắp sạch trơn ấy rất lâu. Rồi anh rút cái giẻ ở túi quần ra, lau nắp ca-pô. Lau đi lau lại, cẩn thận, như đang lau một vết gì mà chỉ mình anh nhìn thấy.