☾ Truyện Ma Có Thật
← Bảy phần mười số điện

Chương 3: Sợi dây bọc vải

Khoảng 5 phút đọc·12lượt xem

Tôi vẫn đi dây. Tiền đã nhận, việc đã hứa, và nói thật, ban ngày trong căn nhà đó không có gì để sợ ngoài bụi. Tôi bắc thang, bắn ống luồn dọc tường, kéo dây mới từ phòng này qua phòng khác, vừa làm vừa huýt sáo cho đỡ vắng. Tiếng huýt sáo trong nhà trần cao nghe dội lại, tôi thôi không huýt nữa.

Ngày thứ ba, tôi tới chỗ khó nhất là gầm cầu thang, nơi dây từ công tơ ngoài cổng chui vào nhà rồi chia ra các ngả. Muốn thay thì phải cạy hết lớp ván ốp cũ. Ván mục, cạy nhẹ là bung. Sau lớp ván là tường gạch, và trên tường gạch là một mớ dây cũ chằng chịt như rễ cây.

Hầu hết là dây bọc vải thời Pháp, mục, tôi cắt bỏ không tiếc. Nhưng có một sợi khác hẳn.

Nó là dây cáp bọc cao su đen, cỡ ngón tay út, loại dây Liên Xô thời bao cấp mà hồi nhỏ tôi hay thấy trong nhà máy. Nó không mục. Vỏ còn dẻo, bóng, như mới đi hôm qua. Nó đấu vào đường dây từ công tơ ở một chỗ rất khéo, trước khi tới cầu dao tổng, nghĩa là cầu dao có gạt xuống thì nó vẫn sống. Mối nối được hàn thiếc, bọc ống cao su, quấn thêm một lớp băng vải tẩm nhựa đường. Đó không phải tay thợ xóm. Đó là tay người học hành đàng hoàng, làm cho hai ba chục năm không phải mở ra coi lại.

Tôi lần theo sợi cáp. Nó chui vào một ống sắt chôn chìm trong tường, chạy ngang gầm thang, rồi quẹo xuống. Tôi gõ tường theo hướng ống, tiếng gõ đục dẫn tôi đi dọc hành lang tầng trệt, bên tường trái, tới tận cánh cửa sắt xuống hầm. Ở đó ống sắt lộ ra một khúc ngay trên khung cửa, rồi xuyên qua tường, mất hút xuống dưới.

Tôi đứng dưới cái ống sắt đó, lấy bút thử điện chạm vào chỗ cáp lộ ra. Bóng nê ông trong bút đỏ rực. Hai trăm hai mươi vôn, giữa trưa, cầu dao tổng đang gạt xuống và khoá dây kẽm. Cái gì dưới hầm cũng đang có điện. Chỉ là nó chưa ăn. Nó đợi khuya, đợi dế nín.

Tôi đặt lòng bàn tay lên ống sắt. Sắt chôn trong tường gạch, giữa căn nhà lúc nào cũng mát lạnh, đáng lẽ phải lạnh. Nó ấm. Ấm đều, không nóng, cái ấm của cổ tay người khi mình bắt mạch.

Tôi rút tay lại, chùi vào quần.

* * *

Ông Khải tới lúc đầu giờ chiều. Lần này ông ta bước vào tới hành lang, nhưng dừng lại cách cửa hầm chừng năm thước, không gần hơn. Tôi chỉ ống sắt, chỉ mối nối sau gầm thang, nói thẳng: nhà này có một đường dây câu lén trước cầu dao, dẫn xuống hầm, đang sống. Muốn nhà an toàn để bán thì phải cắt bỏ đường đó. Tôi làm được trong một buổi.

Ông ta nghe hết, không ngắt lời. Rồi ông ta nói, chậm, mỗi chữ như đặt xuống bàn.

"Anh đừng đụng sợi dây đó."

"Nó nguy hiểm. Dây sống đi xuống chỗ ngập nước. Khách mua coi nhà mà có đứa nhỏ nào xuống đó thì sao."

"Hầm khoá rồi. Không ai xuống. Anh nối điện trong nhà cho xong. Sợi dây đó để tôi tính."

Tôi hỏi ông ta biết dưới hầm có gì không. Ông ta nhìn cái cửa sắt, một cái nhìn rất ngắn, rồi quay đi.

"Nước."

Rồi ông ta nói thêm, nhỏ hơn, như nói với chính mình.

"Hồi đó là hầm rượu. Người Pháp xây bể chứa nước mưa dưới đó cho mát."

Hồi đó. Người môi giới nhà đất nói về một căn nhà mới nhận bán bằng hai chữ hồi đó. Tôi để ý, nhưng tôi không nói gì. Tôi chỉ nhìn chùm chìa khoá ông ta đang xoay trong tay trái, bàn tay có vết sẹo láng. Trên chùm chìa có một miếng thẻ đồng cũ, mòn, khắc ba chữ cái mà từ chỗ tôi đứng không đọc được.

Ông ta đưa thêm một phong bì nữa. Tôi không đếm. Ông ta nói tuần sau có khách coi nhà, tôi làm xong sớm thì tốt. Rồi ông ta đi ra, và tôi nhận ra khi đi ngang cửa hầm, ông ta đi sát tường bên phải, sát tới mức vai quẹt vào vôi, để cách cái cửa càng xa càng tốt.

* * *

Buổi chiều tôi đi dây xong ba phòng tầng trệt. Sợi cáp đen cứ lởn vởn trong đầu. Kẻ trộm điện thì câu trước công tơ. Người này câu sau công tơ, chịu trả tiền, chỉ không chịu để ai tắt. Một cái cầu dao gạt xuống, một đứa nhỏ nghịch, một bà vợ khó chịu, không gì tắt được.

Mỗi lần đi ngang cửa hầm, tôi thấy mình bước sát tường bên phải. Y như ông Khải.

Bốn giờ rưỡi tôi dọn đồ. Trước khi ra, tôi làm một việc mà tôi biết là không nên. Tôi lấy cái đồng hồ vạn năng, kẹp ampe vào sợi cáp đen ngay chỗ lộ trên khung cửa hầm. Kim nằm ở số không. Không có dòng. Tôi để nguyên cái kẹp ở đó, chỉnh thang đo lớn nhất, bật chức năng giữ số cao nhất. Sáng mai tôi coi nó ăn bao nhiêu.

Lúc khoá cổng, tôi coi công tơ. Mười ba phẩy tám. Đĩa đứng.

Bà già không ngồi ở hiên. Cửa nhà bà đóng, nhưng tôi thấy tấm màn cửa sổ hé ra một khoảng bằng ngón tay, và sau khoảng hé đó có một con mắt.

* * *

Sáng hôm sau công tơ chỉ mười bốn phẩy năm. Đúng bảy phần mười.

Tôi vào coi đồng hồ kẹp. Số nó giữ được qua đêm vừa đủ cho một bóng đèn tròn lớn cháy chừng hai mươi phút.

Nhưng không phải con số đó làm tôi đứng lặng. Cái đồng hồ vạn năng tôi để kẹp trên khung cửa hầm, cao quá đầu người, sáng ra không còn trên khung cửa. Nó nằm dưới sàn gạch bông, ngay trước cửa sắt, đặt ngay ngắn, mặt số ngửa lên.

Và ổ khoá đồng to bằng bàn tay, hôm qua tôi thấy khoá, giờ đang treo hờ trên cái khoen, móc còn mở.