☾ Truyện Ma Có Thật
← Bảy phần mười số điện

Chương 7: Tấm hình trên bàn thờ

Khoảng 5 phút đọc·12lượt xem

Tôi đứng trước hộp công tơ một lúc lâu. Lùi bảy phần mười. Đĩa nhôm có vạch đỏ nằm yên, vô tội như mọi cái công tơ trên đời. Nhưng nó đã quay. Quay ngược.

Tôi không qua nhà bà Sáu. Tôi đi thẳng lên lầu.

Trên lầu có một phòng tôi chưa vào, cửa gỗ khoá, ông Khải nói là phòng kho, khỏi đi dây. Tôi đứng trước cửa đó, ướt từ hông trở xuống, và tôi đạp. Cửa gỗ mục, ổ khoá bật ra sau cú thứ hai.

Không phải phòng kho. Là phòng ngủ của một người đàn ông sống một mình. Giường sắt đơn, mùng còn buông. Bàn làm việc bằng gỗ cẩm lai, trên bàn một chồng sổ tay bìa cứng. Và trên tủ áo, một bàn thờ nhỏ. Hai tấm hình.

Tấm thứ nhất là ông già, tóc bạc cắt ngắn, mặt khắc khổ, mắt nhìn thẳng. Tấm thứ hai là con bé. Hình chụp ở trường, khăn quàng đỏ, tóc cắt ngang trán, cười thiếu một cái răng cửa. Dưới hình đề Lê Thị Hoài An. Một chín bảy sáu, một chín tám tư.

Bên cạnh hai tấm hình là một tấm hình thứ ba, không lồng khung, dựng nghiêng vào vách. Hình gia đình, đen trắng, chụp trước cổng chính căn nhà này, lúc cây me còn thấp. Người đàn ông trẻ hơn trong tấm hình kia hai mươi tuổi. Người đàn bà mặc áo dài. Con bé cười thiếu răng, đứng trước. Và thằng con trai chừng mười một tuổi, ốm nhom, đầu nghiêng về bên phải, bàn tay trái quấn băng trắng giơ lên che nắng.

Tôi nhìn cái đầu nghiêng đó. Tôi đã thấy nó ở bậc thềm bốn lần.

* * *

Tôi mở cuốn sổ tay trên cùng. Chữ viết nghiêng, đẹp, kiểu chữ người học trường Pháp. Trang đầu là một bản vẽ. Sơ đồ đấu dây từ công tơ, qua một mối nối trước cầu dao, xuống hầm, xuống bể. Và một dòng gạch dưới: không công tắc.

Những trang sau là nhật ký, mỗi dòng một đêm.

Hai giờ. Sáng. Không bảy số.

Hai giờ. Sáng. Không bảy số. Ngồi tới hai giờ hai mươi.

Tôi lật. Hàng trăm trang như vậy, hàng ngàn đêm. Thỉnh thoảng có một dòng khác. Má nó không xuống. Thằng Hai hỏi em ở dưới có lạnh không, tôi không biết trả lời.

Tới một trang năm chín mươi mốt, chữ viết thay đổi, to hơn, ấn mạnh hơn.

Cắt theo ý má nó. Cắt luôn cầu dao tổng. Hai giờ, hầm không sáng. Đèn phòng thằng Hai sáng. Nó lên lầu kiếm anh nó. Thằng Hai thấy nó. Công tơ quay ngược.

Dòng tiếp theo cách một khoảng trống.

Nối lại. Sáng. Không chín số. Nó ở lâu hơn. Má nó đem thằng Hai đi rồi. Tôi ngồi một mình.

Không ai ngồi thì nó đi kiếm người. Nó không cần điện. Nó cần người ngồi tới khi đèn tắt.

Rồi lại hàng trăm trang đều đặn.

Những trang cuối cùng là năm ngoái, chữ run, nét đứt.

Mệt. Viết thư cho thằng Hai. Nó không trả lời.

Thằng Hai gọi. Nói không về. Nói ba cắt đi, bán nhà đi. Tôi nói cắt là nó đi kiếm con, nó không nghe.

Và dòng cuối cùng, chỉ còn vài chữ, nét như kéo lê.

Kiếm thợ. Thợ ngồi được không.

* * *

Tôi nghe tiếng xe ngoài cổng. Tiếng cổng. Tiếng giày da trên gạch bông dưới trệt, đi dọc hành lang, dừng, rồi lên cầu thang. Lên từng bậc.

Ông ta đứng ở cửa phòng, nhìn tôi cầm cuốn sổ, nhìn tấm hình gia đình đang dựng ở vách. Ông ta không giả vờ nữa.

"Tôi là thằng Hai."

"Ba tôi gửi thư ba năm, tôi không về. Ba chết, tôi về chôn. Kêu thằng Tám cắt dây, tưởng cắt là hết. Tám chết. Tôi chạy."

"Rồi bà Sáu nhờ người viết thư qua. Nó qua nhà hàng xóm rồi. Có đứa nhỏ nói chuyện với chị."

Ông ta nhìn đôi giày mình, ướt sương tới mắt cá.

"Tôi không ngồi được. Năm chín mươi mốt tôi thấy nó. Nó đứng cuối giường tôi, ướt, tóc dán vào mặt, cầm cây đèn dầu tắt. Nó kêu anh Hai. Tôi mười tám tuổi. Tôi đái ra quần. Tôi không ngồi với nó được một đêm nào hết, anh hiểu không."

"Nên anh kiếm thợ."

"Ba tôi viết vậy. Thợ ngồi được không. Tôi... không biết. Tôi xin gắn công tơ lại cho nó có điện ăn, cho hàng xóm yên."

"Rồi kiếm một người thợ không biết gì. Để cửa hầm mở. Anh xuống. Anh thấy. Đêm qua tôi khoá cửa, để anh ngồi với nó cho hết."

Ông ta ngước lên, mắt đỏ.

"Tôi xin lỗi anh. Tôi trả anh tiền tháng, bao nhiêu cũng được, từ bên Pháp gửi về. Nhà này không bán. Chưa bao giờ định bán. Chỉ cần anh xuống trước hai giờ, ngồi tới khi đèn tắt. Ba tôi làm được hai mươi bốn năm."

Tôi hỏi, nếu tôi không.

Ông ta nhìn ra cửa sổ, về phía trụ cổng có cái hộp công tơ.

"Nó quay ngược đêm qua rồi. Hai lần trong đời tôi thấy nó quay ngược. Lần trước là đêm nó lên lầu kiếm tôi. Nó đã ra khỏi bể, nó biết mặt anh, anh về nhà nó theo. Anh không xuống thì nó không ở đây. Nó ở chỗ anh."

* * *

Tôi bỏ cuốn sổ xuống bàn. Tôi đi ngang ông ta ra cầu thang, không chạm vào ông ta. Dưới sân tôi gom vội đồ nghề. Tôi chạy xe qua cầu Rạch Cát lúc trời đang nắng gắt, và tôi nghĩ nếu chạy đủ nhanh thì cái gì đó sẽ rớt lại phía sau.

Về tới nhà lúc năm giờ chiều. Tôi dựng xe, và theo thói quen mười mấy năm, tôi ngước lên coi công tơ nhà mình treo trên cột trước sân. Đĩa đứng. Số bình thường. Tôi thở ra.

Bé Na còn ở ngoại. Tôi ăn cơm một mình, kiểm tra từng ổ cắm trong nhà, rút hết phích, gạt cầu dao tổng xuống. Tôi ngồi trong bóng tối phòng khách, cửa sổ mở, nhìn ra cột điện có cái công tơ, đợi.

Tôi không nhìn đồng hồ. Con chó nhà bên đang sủa bỗng ư một tiếng rồi im. Phòng khách lạnh xuống, và cái mùi tanh ngọt của nước đọng trong lu bò ra từ phía sau lưng tôi.

Trong sân, cái hộp công tơ nhà tôi kêu rì rì. Tôi nhìn qua cửa sổ. Đĩa nhôm có vạch đỏ bắt đầu quay. Chậm, đều, bốn giây một vòng. Lùi về bên trái.

Và trong nhà tắm, sau lưng tôi, cầu dao đã gạt xuống, bóng đèn tròn bật sáng.