Chương 3: Chiếc móc khoá trống
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Tuần thứ hai tôi bắt đầu quen việc. Sáng rửa bàn đá, trưa lên khoa lấy giấy, chiều nhận đá cây từ xe của hợp tác xã nước đá, tối ghi sổ. Người nhà đến thì pha nước, chỉ chỗ ngồi, không nói nhiều. Chú Lợi bảo tôi được việc. Tôi không kể với chú chuyện ghế đá.
Cô Hạnh xuống nhà xác mỗi khi khoa có người mất, và thường ở lại uống chén nước trước khi về. Cô hay nói, tôi hay hỏi. Tôi hỏi về ông Khảm.
"Ông ấy về đây từ hồi máy bay Mỹ đánh cầu Hàm Rồng, lúc nhà xác còn là cái lán tre. Hồi ấy ngày nào cũng có người. Ông ấy bảo em, quen rồi, về quê nằm im quá không ngủ được."
Tôi hỏi ông có vợ con gì không. Cô lắc đầu.
"Không ai cả. Tết ông ấy cũng ở đây. Em thấy ông ấy ngồi ghế đá hút thuốc từ sáng mùng một đến tối. Em bảo bác về quê đi, bác bảo về làm gì, đất thì còn đấy mà người thì hết."
Cô rửa chén, úp lên bệ cửa sổ, cạnh bao Bông Sen. Cô nhìn bao thuốc, rồi nhìn tôi.
"Anh hút thuốc à?"
Tôi bảo của ông Khảm để lại. Cô cầm lên, lắc lắc, đặt xuống, không nói gì. Lúc cô đi rồi tôi mới đếm lại. Ba điếu. Tôi đã đếm từ sáng, cũng ba. Đêm qua lại hụt một điếu, và đêm qua tôi không nghe tiếng ghế đá, vì tôi ngủ say sau hai đêm thức.
* * *
Buổi chiều tôi đứng trước bảng chìa khoá trong phòng trực. Sáu móc, năm chùm. Trên tấm gỗ, phía trên mỗi móc, có khắc chữ bằng mũi dao: cổng sau, kho, nhà tắm, phòng trực, cửa chính. Móc cuối cùng khắc hai chữ viết tắt, B và L, cạnh nhau. Móc ấy trống.
Buồng lạnh.
Tôi tháo cả năm chùm, mang ra cửa gian trong, thử từng chìa vào ổ khoá đồng. Không chìa nào vào được nửa răng. Ổ khoá to, nặng, loại khoá kho của Trung Quốc thời trước, không gỉ, cầm vào lạnh tay. Có người lau nó thường xuyên. Hoặc là nó mới được dùng.
Tôi cúi xuống nhìn khe dưới cánh cửa. Khe hẹp, tối, có gió lùa ra, lạnh hơn gió ngoài hiên. Buồng lạnh hỏng từ năm tám chín, ông Khảm bảo thế. Hỏng thì lấy đâu ra lạnh. Chắc gian ấy không có cửa sổ, nắng không vào.
Tôi đứng dậy, treo chìa vào bảng. Móc cuối vẫn trống. Tôi nghĩ ông Khảm cầm chìa ấy đi, có thể quên, có thể cố ý. Nghĩ đến đây tôi lại nghĩ đến cái túi vải nhỏ ông cầm ở bến xe. Người về quê hai mươi năm sau, cầm một cái túi nhỏ bằng cái túi đi chợ.
* * *
Đêm ấy có xác. Một cô gái mười chín tuổi, tai nạn xe máy trên đường Bà Triệu, khoa Ngoại chuyển xuống lúc mười một giờ đêm. Người nhà ở tận Thọ Xuân, sáng mới lên được. Tôi đắp vải cho cô, kê đá, rồi ngồi ở phòng trực với ngọn đèn dầu, cửa hé một bàn tay.
Ở với xác không sợ. Tôi đã ở với xác đồng đội ba ngày trong hang ở Vị Xuyên. Cái làm tôi khó ở là tôi phải đợi một tiếng động, và tôi biết chắc nó sẽ đến.
Hơn một giờ, ghế đá kẹt.
Lần này tôi không đứng sau khe cửa. Tôi kéo mạnh cánh cửa, bước thẳng ra hiên.
Ghế đá trống.
Bóng đèn tròn treo ở cột soi xuống mặt ghế, soi xuống nền gạch, soi cả gốc bàng. Không có ai. Không có đốm lửa nào. Vườn bạch đàn đen và im, gió không thổi. Tôi đứng đó, chân đất, nhìn quanh một vòng, nhìn cả lên mái.
Nhưng mùi thuốc thì có. Rõ, gần, như có người vừa rít một hơi ngay cạnh mặt tôi.
Tôi hít một hơi để tìm hướng. Và tôi nhận ra mùi không từ ngoài hiên bay vào. Mùi từ trong nhà bay ra. Từ phía sau lưng tôi, qua cánh cửa tôi vừa mở toang.
Tôi quay lại.
Gian ngoài tối, chỉ có ánh đèn dầu từ phòng trực hắt qua. Bàn đá thứ hai có cô gái nằm dưới tấm vải. Ba bàn kia trống. Cuối gian, cánh cửa sơn xanh của gian trong đóng im, ổ khoá đồng lủng lẳng, sáng mờ.
Mùi Bông Sen từ đấy ra. Từ khe dưới cánh cửa ấy, theo luồng gió lạnh.
Tôi đi về phía đó. Mười hai bước. Tôi đếm được vì tôi bắt mình đếm. Đến nơi, tôi đặt tay lên cánh cửa. Gỗ lạnh. Tôi áp tai vào.
Bên trong không có tiếng gì. Nhưng tiếng không có ấy không giống cái im của một gian phòng trống. Nó giống cái im của một người đang nín thở để nghe mình.
Tôi đứng như thế không biết bao lâu. Rồi tôi lùi lại, quay về phòng trực, kéo cửa chính hé một bàn tay như cũ, ngồi xuống giường. Tôi không nằm.
* * *
Sáng, người nhà cô gái lên, khóc ngất ngoài hiên. Tôi giúp họ đưa cô ra xe, ghi sổ, rửa bàn. Xong việc tôi ra hiên nhìn gốc ghế đá. Không có tàn thuốc.
Tôi quay vào, đi ra cuối gian ngoài, đến trước cửa gian trong.
Trên ngưỡng cửa, ngay sát khe hở dưới cánh cửa, ở phía trong gian ngoài, có một mẩu tàn Bông Sen. Dụi dở. Đầu lọc ướt.
Như thể người hút đã ngồi ở đây, trên ngưỡng cửa gian trong, quay mặt ra, hút hết điếu thuốc, rồi dụi xuống và lùi vào trong khe tối ấy. Người ta chỉ lùi vào một chỗ như thế khi chỗ ấy là nhà mình.
Trên bệ cửa sổ, bao thuốc còn hai điếu.