☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 4: Lá thư trả lại

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Tôi viết thư cho ông Khảm vào một buổi trưa cuối tháng Chín. Lý do để viết thì có sẵn, tôi hỏi ông về chìa khoá gian trong. Lý do thật thì tôi không viết ra. Tôi muốn biết có một người ở Nga Sơn nhận được lá thư ấy hay không.

Địa chỉ tôi xin bà Tâm. Bà lật hồ sơ hưu, đọc cho tôi chép. Nguyễn Văn Khảm, sinh năm 1934, quê quán xã Nga Phú, huyện Nga Sơn. Chỗ ghi thân nhân để trống. Chỗ ghi nơi nhận lương hưu ghi bưu điện xã Nga Phú.

"Hưu từ mùng một tháng Chín. Lương tháng này bưu điện chuyển về đấy rồi. Cậu còn hỏi gì nữa không?"

Tôi bảo không. Tôi dán tem, bỏ thư vào thùng bưu điện trước cổng bệnh viện, rồi đi về. Lúc đi qua vườn bạch đàn tôi để ý lá đã bắt đầu rụng, trải trên lối đi một lớp mỏng, giẫm lên kêu giòn.

* * *

Trong lúc chờ thư, tôi dọn phòng trực.

Ông Khảm để lại không nhiều. Một cái điếu cày gác ở góc, nhưng ông hút thuốc lá, chắc của người trước nữa. Một cái gối mây. Một quyển lịch năm 1994 còn treo trên tường, chưa ai bóc sang năm mới. Tôi mở ngăn kéo bàn. Có cuộn dây dù, một hộp diêm Thống Nhất, mấy cái đinh, và một cái khăn tay gấp tư.

Khăn tay vải phin trắng đã ngả vàng. Tôi mở ra. Giữa khăn có những vết nâu sẫm, loang thành hình như bông hoa khô. Nhiều lớp vết chồng lên nhau, lớp cũ ngả đen, lớp mới còn hơi đỏ. Tôi biết vết đó là gì. Lính biên giới ai cũng biết. Ông Khảm chấm miệng bằng khăn này mỗi lần ho, chiều bàn giao tôi nhìn thấy, chỉ không thấy ông mở nó ra.

Tôi gấp khăn lại như cũ, để vào ngăn kéo. Một người ho ra máu như thế, với một cái túi vải nhỏ, đi về một cái xã ven biển không còn ai. Tôi cố hình dung ông ấy đến nơi, mở cửa một căn nhà, nằm xuống. Tôi không hình dung ra được. Tôi chỉ hình dung ra cái ghế đá.

* * *

Những đêm cuối tháng Chín yên hơn. Ghế đá vẫn kẹt, mùi thuốc vẫn có, nhưng tôi không ra nữa. Tôi nằm nghe, như nghe một người hàng xóm ho khuya. Có đêm tôi ngủ trước khi tiếng ghế kẹt, sáng dậy vẫn thấy tàn thuốc dưới chân ghế bên trái, hoặc trên ngưỡng cửa gian trong. Hai chỗ ấy thay nhau.

Tôi nói với mình, cứ để thế. Người ta làm hai mươi mấy năm, người ta có quyền ngồi.

Bao Bông Sen trên bệ cửa sổ còn một điếu. Tôi không động vào. Tôi muốn xem đến điếu cuối thì sao.

* * *

Lá thư quay lại sau mười một ngày.

Chú Lợi đưa cho tôi lúc tôi lên phòng hành chính lấy giấy. Phong bì của tôi, nét chữ của tôi, tem đã đóng dấu. Góc trái có dấu bưu điện Nga Sơn màu tím và một dòng chữ viết tay bằng bút bi xanh, nét nghiêng, của người bưu tá.

Không có người nhận. Xã không có hộ này. Trả lại người gửi.

Chú Lợi nhìn tôi.

"Mày viết thư cho ông Khảm làm gì?"

Tôi bảo hỏi chuyện chìa khoá. Chú bảo chìa gì thì hỏi hành chính, ông ấy hưu rồi, đừng làm phiền. Tôi hỏi chú, lương hưu tháng Chín bưu điện chuyển về xã ấy, ai lĩnh. Chú im một lúc.

"Việc của bưu điện. Mày hỏi nhiều quá."

Tôi cầm lá thư về. Buổi chiều tôi ngồi ở ghế đá đọc lại dòng chữ của người bưu tá đến thuộc. Xã không có hộ này. Một người sinh ra ở một xã, đi khỏi đó từ năm mười tám tuổi, về lại sau bốn mươi năm, thì xã không có hộ, đúng. Nhưng người ấy vẫn phải nằm ở đâu đó. Một cái nhà, một cái giường, một cái bệnh viện huyện. Tôi không biết ở đâu.

Tôi để lá thư lên bàn trong phòng trực, cạnh quyển sổ nhận xác.

* * *

Đêm ấy tôi nghe tiếng ho.

Không phải tiếng ghế đá. Tiếng ho đến trước, lúc tôi còn chưa ngủ, khoảng mười hai giờ. Một tràng khô, sâu, như gõ vào thùng rỗng, rồi nghỉ, rồi một tràng nữa ngắn hơn. Tôi ngồi bật dậy, vì tôi biết tiếng ho ấy. Cả chiều bàn giao tôi nghe nó.

Tôi ra khe cửa. Ghế đá trống. Hiên trống.

Tràng ho thứ ba vang lên, và lần này tôi nghe rõ hướng. Nó từ cuối gian ngoài. Từ sau cánh cửa sơn xanh.

Tôi cầm đèn dầu đi ra. Mười hai bước. Ánh đèn dầu lắc lư làm bóng bốn cái bàn đá đổ dài rồi ngắn trên tường. Đến trước cửa gian trong, tôi đứng. Tiếng ho đã dứt. Tôi áp tai vào gỗ.

Có tiếng. Rất nhỏ. Tiếng một người sau khi ho xong, nuốt khan một cái, rồi thở ra dài. Tiếng thở ấy sát cánh cửa, ngang tầm tai tôi, chỉ cách một lớp ván.

Tôi nói, giọng khẽ đến mức tôi không chắc mình có nói thành tiếng.

"Bác Khảm?"

Không ai trả lời. Nhưng luồng gió lạnh từ khe dưới cửa ngừng thổi, như có cái gì vừa nằm xuống chắn ngang khe ấy.

Tôi quay về phòng trực. Tôi không tắt đèn. Đến sáng, điếu thuốc cuối cùng trong bao vẫn còn. Lần đầu tiên từ hôm về, bao thuốc không hụt.

Nhưng lá thư trên bàn đã bị dịch đi. Nó nằm cạnh bao Bông Sen trên bệ cửa sổ, mặt có dòng chữ của người bưu tá ngửa lên, như có người đã đọc và để lại đấy cho tôi đọc lại.