☾ Truyện Ma Có Thật
← Điểm danh thừa một tiếng

Chương 1: Đêm đầu ra ngầm

Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem

Tôi về tiểu đội 4 vào một buổi chiều cuối tháng Hai năm 1971, sau Tết chừng ba tuần. Trước đó tôi ở đại đội khác, phía ngoài, làm đường gần binh trạm. Người ta điều tôi vào thay một chị tên Nhàn vừa đi viện binh trạm vì sốt rét. Giấy điều động viết tay, gấp tư, tôi để trong túi áo ngực, mồ hôi thấm làm chữ nhoè gần hết.

Tiểu đội ở trong một cái hang dưới chân lèn đá, người ta gọi là hang Lèn Ông. Cửa hang quay ra con suối nhỏ, cách ngầm Khe Rinh chừng một cây số đường rừng. Trong hang kê hai dãy sạp bằng cây rừng, trải nứa, mỗi dãy năm chỗ nằm. Giữa hang là bếp Hoàng Cầm, khói dẫn ra ngoài theo rãnh đất. Phía trong cùng tối, mùi đá ẩm và mùi dơi.

Chị Lý là tiểu đội trưởng. Chị hai mươi bốn tuổi, người Can Lộc, gầy, tóc cắt ngang vai vì rụng nhiều, giọng nói trầm như đàn ông. Chị nhìn tôi, nhìn tờ giấy, rồi chỉ cái chỗ trống cuối sạp bên trái.

"Chỗ của Nhàn. Nằm đó. Mận, lo cho nó."

Mận là người cùng huyện với tôi, xã bên, hơn tôi một tuổi. Mận có cái lược làm từ mảnh nhôm xác máy bay, răng lược cái dài cái ngắn, lúc nào cũng gài ở túi áo. Mận chỉ cho tôi từng người.

Gái nhỏ nhất, mười tám như tôi, má lúm, hay cười. Hồng người Thạch Hà, bơi giỏi nhất tiểu đội. Vân và Luyến là chị em con chú con bác, đi đâu cũng đi đôi. Tịnh hát hay. Sâm ít nói, cuốc đất khoẻ như trâu. Thuận lớn tuổi nhất sau chị Lý, đã có chồng ở nhà.

Mười người, kể cả tôi.

Mận đưa tôi cái bi đông của Nhàn để lại, bảo khắc tên vào, ở đây ai cũng khắc, lẫn thì khổ. Tôi lấy cái đinh, ngồi ở cửa hang cạo lên lớp sơn xanh ba chữ: Thắm, Đức Yên. Chữ xấu, nét run. Mận cười bảo xấu cũng là của mi.

* * *

Lúc dơi trong hang bắt đầu bay ra từng đàn, chị Lý gọi cả tiểu đội ra đứng hàng ngang ở cửa hang. Chị lấy trong túi áo ra một cuốn sổ nhỏ bìa đen, mép đã sờn, và một mẩu bút chì ngắn bằng ngón tay. Chị không mở sổ. Chị gọi tên theo trí nhớ.

"Lý."

"Có."

Chị gọi chính mình trước, rồi đến Thuận, Sâm, Tịnh, Hồng, Vân, Luyến, Gái, Mận. Đến tôi là cuối cùng.

"Thắm."

"Có."

Mười cái tên, mười tiếng thưa. Chị Lý gật đầu, đút sổ vào túi, cài cúc. Mận nói nhỏ với tôi, lệ ở đây là thế, ra đường điểm danh một lần, về hang điểm danh một lần. Tên nào gọi mà không thưa thì cả tiểu đội quay lại tìm, tìm được mới về.

Chúng tôi ra ngầm. Đường mòn xuyên rừng khộp, lá khô dày tới mắt cá, bước chân kêu như đi trên bánh đa. Mùa khô, bụi đỏ bám đầy lá. Phía ngầm nghe tiếng nước chảy xiết qua đá và tiếng xe ở xa, tiếng máy gầm lên từng đợt khi lên dốc.

Việc của chúng tôi là san lấp hố bom trên đoạn đường dẫn xuống ngầm và đứng làm cọc tiêu cho xe qua. Chị Lý chia tôi với Mận và Gái đi lấp hố ở đoạn cua trên. Chúng tôi làm trong bóng tối, không đèn, quen tay mà xúc.

Làm được chừng vài chục xẻng đất thì rừng khộp im bặt, cả tiếng dế cũng tắt. Rồi có tiếng máy bay. Không phải tiếng tàu bay trinh sát bay vè vè mà chúng tôi nghe cả chiều. Tiếng này cao hơn, đều hơn, từ hướng đông tới.

Mận kêu một tiếng rất ngắn.

"Xuống."

Tôi không nhớ mình đã chạy hay đã nằm. Tôi nhớ mặt đất nảy lên. Tôi nhớ tiếng nổ không nghe bằng tai mà bằng cả lồng ngực.

Rồi đất đổ xuống. Đất ấm, nặng, khô, đổ lên lưng, lên gáy, lên đầu, rồi lấp kín. Tôi mở miệng thì đất vào miệng. Tôi nghĩ đến mẹ tôi đang gánh nước ở giếng làng. Rồi tôi không nghĩ gì nữa.

Có tay ai bới.

Tôi nhớ tiếng Mận gọi tên tôi, gọi gần lắm, gọi rồi khóc, khóc rồi gọi. Tôi nhớ tay Mận nắm lấy cổ tay tôi, lôi lên. Tôi nhớ chị Lý quỳ xuống bên cạnh, cúi sát mặt tôi, rất lâu. Rồi tôi được khiêng đi, lắc lư, lá khô kêu dưới chân người khiêng.

* * *

Tôi tỉnh trong hang, trên sạp của Nhàn. Trời đã hửng. Ngoài cửa hang sương trắng phủ kín suối. Người tôi lạnh từ trong lạnh ra, lạnh như vừa dưới nước lên, mà áo thì khô. Đất còn trong tai, trong tóc, trong kẽ răng. Tôi ngồi dậy, không thấy đau chỗ nào. Tôi nghĩ mình may.

Ngoài cửa hang, tiểu đội đang xếp hàng điểm danh về. Tôi bước ra, đứng vào chỗ cuối hàng, cạnh Mận. Mận không quay sang nhìn tôi. Mặt Mận lem đất, hai mắt sưng.

Chị Lý gọi. Giọng chị khản đặc.

"Lý."

"Có."

"Thuận."

"Có."

Chị gọi hết tám tên nữa, tiếng thưa đều đặn, mệt mỏi. Đến tên cuối.

"Thắm."

"Có."

Và ngay sau tiếng thưa của tôi, có một tiếng có nữa. Sát sau, dính liền, như người thứ hai thưa cùng một tên. Giọng con gái, khàn, nhỏ. Tôi quay sang Mận. Mận nhìn thẳng ra suối, môi mím.

Tôi hỏi khẽ ai vừa thưa thế. Mận nói không nhìn tôi.

"Hang có tiếng vọng. Đừng để ý chi."

Tôi đứng đó, đếm lại trong đầu. Mười cái tên. Mười một tiếng thưa. Chín cái tên kia không có tiếng vọng nào. Chỉ tên tôi.

Chị Lý đút sổ vào túi áo, không cài cúc. Tay chị run.