Chương 2: Phần cơm đầu sạp
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Ban ngày ở hang Lèn Ông dài hơn ban đêm. Máy bay trinh sát bay vè vè từ sáng đến chiều, cả tiểu đội nằm trong hang ngủ bù, đến chiều mới ra suối gội đầu, giặt giũ, cơm nước, rồi tối lại ra đường.
Hôm ấy tôi không ngủ được. Tôi nằm trên sạp của Nhàn, nghe tiếng dơi trong cùng hang và tiếng nước nhỏ từ trần đá xuống. Lạnh. Cái lạnh không ở ngoài da mà ở trong xương, như có ai đặt một cục đá vào giữa ngực. Tôi đắp hai cái chăn chiên vẫn không ấm. Tôi tự nhủ bị bom vùi thì người ai cũng thế, vài hôm là hết.
Buổi chiều mọi người kéo nhau ra suối. Mận bẻ quả bồ kết nướng sẵn, đập dập, bỏ vào cái nồi quân dụng. Hồng cởi áo lội xuống chỗ nước sâu, bơi một vòng rồi lên, cười với Gái. Tịnh vừa vò tóc vừa hát một câu dân ca Nghệ, giọng mỏng mà xa.
Tôi ngồi trên tảng đá cạnh bờ. Tôi cũng muốn gội, đất vẫn còn trong tóc, gãi ra từng hạt lạo xạo. Nhưng tôi không muốn xuống nước. Tôi nhìn nước là thấy lạnh hơn.
Mận ngồi vắt tóc cách tôi ba bước. Mận nói chuyện với tôi mà mắt nhìn ra dòng suối.
"Ở nhà mi làm chi, Thắm?"
Tôi bảo tôi cấy, tôi đan nón phụ mẹ, nhà có bốn chị em. Mận gật gật. Mận hỏi mẹ tôi có hay khóc không. Tôi nói mẹ tôi không khóc bao giờ, lúc tôi đi mẹ chỉ nhét vào tay tôi gói muối vừng. Mận im một lúc rồi nói.
"Tau cũng nghĩ rứa."
Tôi không hiểu Mận nghĩ rứa là nghĩ thế nào. Mận đứng dậy, vắt tóc lên vai, đi về hang. Suốt buổi chiều ấy không ai hỏi tôi có đau ở đâu không. Tôi nghĩ ở đây người ta quen rồi, bom vùi là chuyện thường, hỏi thì thừa.
* * *
Gần tối, chị Lý xới cơm. Cơm độn sắn khô, muối vừng, canh rau tàu bay. Chị xới mười phần. Chín phần đưa tận tay từng người. Phần thứ mười chị nắm lại, gói trong lá dong, đặt ở đầu sạp bên trái, chỗ gần cửa hang nhất.
Tôi hỏi phần ấy của ai. Chị Lý đang cúi lau cái muôi, không ngẩng lên.
"Của em. Đói thì ăn."
Tôi không đói. Từ lúc tỉnh dậy tôi chưa thấy đói. Tôi bảo để tôi ăn sau. Chị Lý không nói gì, đi ra cửa hang châm điếu thuốc rê. Tôi chưa thấy chị hút bao giờ, Mận bảo thế, bảo chị chỉ hút lúc nào có chuyện.
Có khách. Một anh bộ đội đi từ phía binh trạm vào, ba lô lép, mũ tai bèo, mặt sạm, tuổi ngoài ba mươi. Mận bảo đấy là anh Khang, chính trị viên đại đội. Anh Khang ngồi với chị Lý ở cửa hang rất lâu, nói nhỏ. Chị Lý mở cuốn sổ bìa đen ra, anh Khang viết gì đó vào một tờ giấy khác, dài, có dòng kẻ. Viết xong anh ngẩng lên nhìn vào hang, nhìn đúng chỗ sạp tôi nằm, rồi quay đi.
Tôi nghĩ anh ấy làm giấy cho Nhàn. Người đi viện thì phải có giấy.
Anh Khang về. Chị Lý ngồi lại, hút hết điếu thuốc, rồi mới gọi tiểu đội ra xếp hàng.
* * *
Nắng tắt hẳn trên đỉnh lèn, chị Lý gọi ra hàng. Tôi đứng vào chỗ cuối, cạnh Mận, như hôm qua.
"Lý."
"Có."
"Thuận."
"Có."
Chị gọi Sâm, Tịnh, Hồng, Vân, Luyến, Gái, Mận. Rồi chị đút sổ vào túi.
Chị không gọi tôi.
Tôi đứng chờ thêm một lúc. Mận đã quay đi lấy xẻng. Chị Lý nhìn về phía tôi, nhưng ánh mắt hơi lệch, như nhìn vào vách đá sau lưng tôi.
"Thắm nghỉ. Hôm nay nghỉ cho lại sức."
Tôi bảo tôi khoẻ rồi, không đau chỗ nào. Chị Lý nói thêm một lần nữa, chậm, từng chữ.
"Ở hang. Đừng ra đường."
Rồi chín người đi. Tiếng lá khô dưới chân xa dần. Tôi đứng ở cửa hang nhìn theo đến khi không nghe thấy gì nữa, chỉ còn tiếng suối và tiếng xe rất xa phía ngầm.
Đêm ấy tôi ngồi một mình trong hang. Bếp Hoàng Cầm còn than, tôi hơ tay, tay không ấm lên. Tôi nghĩ đến đất đổ xuống lưng. Tôi nghĩ đến chị Lý cúi sát mặt tôi rất lâu. Tôi nghĩ sao chị lại cúi sát thế.
Rồi tôi nghĩ đến cuốn sổ bìa đen. Chị Lý để quên nó trên sạp, cạnh phần cơm gói lá dong. Tôi cầm lên. Tôi biết không nên. Tôi vẫn mở.
Sổ ghi tên tiểu đội theo cột, nét chì đậm. Lý, Thuận, Sâm, Tịnh, Hồng, Vân, Luyến, Gái, Mận. Trên cùng có tên Nhàn, bên cạnh viết hai chữ tắt, chắc là binh trạm. Dưới cùng là tên tôi, viết sau, nét chì khác, nhạt hơn.
Bên cạnh tên tôi có một dấu nhỏ, than bếp sắp tắt, tôi không đọc được là dấu gì. Tôi thổi than, than đỏ lên một chút, rồi lụi.
Tôi gấp sổ lại, để nguyên chỗ cũ. Ngoài cửa hang, phía ngầm, pháo sáng vừa treo lên, trắng lạnh, soi rõ từng cái lá khộp. Tôi ngồi xuống đợi tiểu đội về.
Gần sáng họ về đủ chín. Chị Lý gọi mười tên. Tên tôi là tên cuối. Tôi thưa. Tiếng vọng thưa theo, lần này chậm hơn hôm qua nửa nhịp, như người phải lấy hơi mới thưa nổi.
Lần này tôi quay thật nhanh. Môi Mận vừa khép lại.