Chương 9: Lá thư trong túi Mận
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Thư tôi gửi mẹ đã mười ngày không có hồi âm. Thư ở đây đi chậm, có khi tháng mới tới, tôi biết. Nhưng tôi vẫn muốn biết Mận đã gửi chưa. Từ hôm Tịnh mất, Mận không nói với tôi câu nào, dù là câu nói vào chăn.
Một trưa, Mận ra suối giặt, để túi áo ngực treo ở đầu sạp. Tôi mở túi.
Lá thư của tôi vẫn ở đó. Gấp tư, góc đã mòn vì cọ vào vải áo. Chưa gửi.
Dưới lá thư của tôi có một lá thư khác. Giấy cùng loại, cũng gấp tư, dày hơn, mực bút chì. Ngoài gấp đề tên người nhận bằng chữ Mận, chữ nghiêng, nét đậm.
Bà Nguyễn Thị Hoà, xóm Trại, xã Đức Yên, huyện Đức Thọ.
Tên mẹ tôi. Xóm tôi. Xã tôi.
Tôi cầm lá thư ấy rất lâu. Tôi không mở. Tôi nghĩ Mận viết cho mẹ tôi, vì Mận cùng huyện, vì Mận biết thư tôi chưa gửi được, Mận viết hộ. Tôi nghĩ Mận thương tôi. Tôi để cả hai lá thư lại chỗ cũ, cài cúc túi như cũ.
Tôi không mở. Về sau tôi vẫn hay nghĩ, giá hôm ấy tôi mở.
* * *
Buổi chiều giao liên qua. Một anh người Quảng Bình, chân đất, gùi thư và thuốc ký ninh. Anh ngồi ở cửa hang uống nước, nói chuyện với chị Lý.
"O Nhàn tiểu đội chị khỏi rồi đó. Binh trạm cho về. Mai đi với tôi vô, có thêm một o mới bổ sung nữa."
Chị Lý gật. Chị hỏi lại một câu.
"Nhàn khoẻ hẳn chưa?"
"Gầy, vàng khè, mà khoẻ. Hỏi thăm tiểu đội miết."
Tôi đứng sau chị Lý, nghe hết. Tôi nghe mà đầu óc chậm lại, từng ý một rơi xuống như nước nhỏ từ trần hang.
Nhàn khỏi. Nhàn về. Nhàn còn sống.
Vậy cái nấm cũ sau hang, cái nấm có bi đông móp, không phải của Nhàn. Đứa trước mi, Mận bảo. Người về trước, chị Lý bảo. Người ấy là ai. Tiểu đội mười người, tôi biết tên cả mười. Trước tôi là Nhàn. Trước Nhàn thì tôi không biết.
Tôi quyết định mai hỏi Nhàn. Nhàn ở tiểu đội lâu, Nhàn phải biết ai nằm đó.
* * *
Bữa chiều chị Lý xới cơm. Bốn phần đưa tận tay Thuận, Sâm, Mận và phần chị. Rồi chị nắm thêm, gói lá dong, đặt thành một hàng ở đầu sạp bên trái, chỗ gần cửa hang. Từ hôm Gái mất, hàng nắm cơm ấy dài thêm mỗi lần có người không về. Tôi quen nhìn rồi, không hỏi nữa.
Hôm ấy tôi đếm thử. Sáu nắm.
Gái, Hồng, Vân, Luyến, Tịnh. Năm. Tôi đếm lại lần nữa, vẫn sáu. Tôi nghĩ chị Lý đếm nhầm, hay chị nắm dư một phần cho Nhàn mai về. Sáng ra Mận gói cả sáu nắm đem ra bãi đất sau hang, như mọi sáng. Tôi không đi theo xem Mận đặt ở đâu.
* * *
Anh giao liên đưa thư cho tiểu đội. Thuận có thư của chồng. Sâm có thư của em gái. Mận không có. Tôi không có. Tôi nghĩ, thư tôi chưa gửi thì ai biết mà viết.
Mận đưa lá thư trong túi áo cho anh giao liên. Một lá. Tôi nhìn kỹ. Lá dày, mực bút chì, chữ nghiêng.
Lá của tôi Mận giữ lại.
Tôi hỏi Mận sao không gửi cả thư tau. Mận đang xếp lại túi, dừng tay. Mận nói, giọng không run như mọi lần, giọng mệt.
"Tau gửi rồi. Thư mi tau gửi rồi."
Mận nói dối. Mận nhìn xuống túi áo, chỗ còn lá thư của tôi, rồi cài cúc. Tôi không cãi. Tôi nghĩ Mận có lý do. Ở đây ai cũng có lý do.
* * *
Tối ấy chỉ còn bốn người ra đường. Chị Lý, Thuận, Sâm, Mận. Bốn người làm cọc tiêu một đoạn hai trăm thước. Tôi đứng giữa Mận và Sâm, cho hàng cọc tiêu đỡ thưa. Xe vẫn không giơ tay với tôi.
Gần sáng, về, điểm danh. Bốn người đứng, và tôi. Chị Lý gọi mười tên. Năm tên có người đứng. Năm tên thưa thay. Tiếng thưa thay giờ đã quen đến nỗi không còn ai dừng lại, trừ chị Lý, ở tên tôi.
Gọi xong mười tên, chị Lý không đút sổ vào túi ngay. Chị đứng thêm một lúc, nhìn hàng. Rồi chị nói.
"Mai Nhàn về. Mai có thêm người mới. Mai tiểu đội có thêm hai chỗ nằm phải dọn."
Tôi nhìn vào hang. Hai dãy sạp. Bên phải năm chỗ, giờ chỉ chị Lý và Thuận nằm. Bên trái năm chỗ, Mận, Sâm, và tôi ở cuối. Còn bao nhiêu chỗ trống.
Sao phải dọn.
Tôi nghĩ chị Lý mệt. Chị nói nhịu.
Mận không vào hang ngay. Mận đứng lại ở cửa, quay mặt ra bãi đất sau hang, nói rất khẽ, không với ai.
"Mai thì mi biết. Tau xin lỗi."