Chương 10: Cửa nhà tôi
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Ông kể bằng tiếng Kinh, chậm, nhìn ra sân, không nhìn tôi lần nào. Tôi chép lại gần đúng lời ông. Những chỗ ông dừng lâu quá tôi không chép.
"Tôi tên là Giàng A Phủ. Tôi sinh ở trên kia. Cái nhà giữa bản, nhà không có cửa."
Tôi không nói gì. Hình như tôi đã biết từ lúc nào đó rồi, chỉ là chưa dám nghĩ thành câu.
"Năm ấy tôi tám tuổi. Em tôi sáu tuổi. Em tôi tên là Mỷ."
Bố ông chết đầu tiên trong nhà. Mẹ ông đem giày bố ra cửa, quay mũi ra rừng. Đêm ấy ông đứng trong nhà nhìn đôi giày bố qua khe cửa, không hiểu, chỉ thấy lạnh. Rồi mẹ ông đổi dép với các nhà khác mỗi đêm, như cả bản làm. Mẹ bảo, đổi để ma không biết nhà mình có ai. Ông và em Mỷ thấy vui, vì sáng ra lại thấy dép người lạ ở cửa nhà mình.
Rồi các nhà khác dần dần không còn ai để đổi.
"Đêm cuối, Mỷ sốt. Nó nằm trong góc, chỗ hôm trước thằng Dũng lấy cái địu. Mẹ tôi ngồi nhìn nó đến nửa đêm. Rồi mẹ đứng dậy. Mẹ cầm đôi dép của tôi, đem ra cửa, đặt xuống. Mũi quay ra rừng."
Ông dừng. Tôi nghe tiếng sương rơi từ mép bạt.
"Mẹ bảo, để ma tưởng mày chết rồi, nó không tìm mày nữa. Rồi mẹ cõng tôi đi. Trong đêm. Mẹ bảo em ngủ rồi, sáng mẹ quay lại đón em. Tôi nhìn qua vai mẹ thấy cửa nhà tôi tối om, và đôi dép tôi ở trước cửa, quay ra."
Đến đoạn bờ suối, ông dừng lâu nhất buổi tối. Ông chỉ nói, sáng ra tay mẹ còn nắm cổ chân ông, phải có người gỡ từng ngón. Trại trẻ cho ông họ Hoàng, vì ông không nói, chỉ khi hỏi tên thì nói được một tiếng Phủ. Mười tám tuổi ông xin đi địa chất, vì địa chất đi rừng, và ông nghĩ đi rừng mãi thì có ngày đi qua đây.
"Hai năm trước tôi thấy tên Nậm Pá trong một tờ báo cáo. Tôi biết là đây. Có chuyến này thì tôi xin đi. Lên đến bãi, thấy mấy nóc nhà, tôi biết ngay nhà tôi. Rồi hai thằng nó khiêng ván xuống. Tấm ván có cái ngưỡng cửa đục mộng ấy, mộng ấy bố tôi đục. Tôi còn nhớ ông ngồi đục."
Ông đặt bàn tay lên mặt ván hiên, chỗ cái ngưỡng cửa.
"Cái hiên này là cửa nhà tôi. Các anh để dép ở cửa nhà tôi. Em tôi đêm nào cũng ra cửa xem có ai về."
* * *
Ông nói, Mỷ không ác. Mỷ sáu tuổi. Ba mươi tám năm nay nó sáu tuổi, cứ ở trong nhà đợi mẹ về đón như mẹ hứa.
Rồi tự nhiên trước cửa nhà nó có một hàng dép. Nó ra xem. Nó không nhớ mặt dép ai, nó chỉ nhớ trong nhà mình phải có người. Nó muốn chọn một người để theo về.
"Người nó theo thì không về đến nhà được. Nó là trẻ con, nó không biết thế. Nó chỉ biết ôm dép."
Nên ông đổi dép. Đêm nào ông cũng đổi, như mẹ ông đổi. Dép ở cửa không còn là của ai cố định thì nó không chọn được ai. Nó chỉ ngồi xem, ướm thử, rồi đi. Đêm ông không ở đây, nó ôm dép Quý đi. Đêm ông sốt mê, nó quay dép tôi ra.
"Sao nó lại quay? Nó quay là nó cho anh đi. Nó thích anh. Nó muốn anh đi trước, lên đó đợi nó. Trẻ con nó nghĩ thế đấy."
Tôi hỏi, giọng khản:
"Giờ bác định làm gì?"
Ông quay sang nhìn tôi. Lần đầu tiên trong buổi tối ấy.
"Tôi về nhà. Phải có người nhà quay dép cho nó thì nó mới đi được. Tôi là người nhà. Mà tôi cũng chẳng còn mấy." Ông vỗ nhẹ lên ngực, chỗ cái khăn tay. "Y sĩ xã bảo rồi. Tôi biết từ trước khi xin đi chuyến này."
Ông đứng dậy. Ông dặn tôi, từng câu một, như dặn việc trên tuyến. Vào lán. Buộc bạt. Nghe gì cũng không ra. Ai gọi cũng không thưa. Sáng hẳn mới mở.
Sáng mai dép ông ở đâu thì để nguyên đó, đừng động. Xuống núi với anh Lâm. Nói với liên đoàn ông chết vì bệnh. Đừng nói gì khác, nói khác người ta không hiểu.
"Còn đôi dép của anh, tôi khâu rồi. Đi được xa đấy."
Ông cầm bát cơm bé ở mép hiên lên, bưng bằng hai tay. Ông bước xuống sân. Ông không đi dép. Đôi dép lê đen của ông vẫn nằm ở hiên, chỗ của ông, mũi quay vào.
Tôi buộc bạt. Hai nút. Tay tôi không nghe lời tôi, phải buộc ba lần.
* * *
Tôi ngồi trong tối. Tôi nghe.
Tiếng chân ông trên cỏ ướt, nặng, chậm, đi về phía lối mòn. Rồi dừng. Rồi tiếng ông nói, tiếng Mông, giọng dỗ dành tôi đã nghe ông dùng ngoài hiên đêm nọ. Ông nói lâu. Rồi ông cười, cái tiếng cười ngắn và mệt ấy.
Rồi có tiếng khác. Nhỏ. Cao. Một tiếng thôi. Như một đứa trẻ hỏi một câu.
Ông trả lời. Rồi hai tiếng chân đi lên lối mòn. Một nặng. Một nhẹ, rất nhẹ, lúc có lúc không, như đứa trẻ con vừa đi vừa chạy cho kịp người lớn. Đi xa dần. Rồi rừng nuốt mất.
Tôi ngồi như thế đến khi không còn nghe gì nữa. Rồi lâu hơn nữa. Sương dày đến mức lọt qua khe bạt thành hơi lạnh ướt trên mặt tôi.
Gần sáng, lúc trời ngoài khe bạt chuyển từ đen sang xám, tôi nghe tiếng ván hiên kêu. Một tiếng. Như có người bước lên.
Rồi tiếng nhựa đặt xuống gỗ. Một chiếc. Rồi nghỉ, lâu hơn mọi lần. Chiếc thứ hai rơi xuống chứ không được đặt, nảy lên một cái trên ván, như bàn tay cầm nó bé quá. Rồi một tiếng mềm, gần như không có tiếng, của vải chạm gỗ.
Tôi không mở bạt. Ông dặn sáng hẳn. Tôi ngồi nghe tiếng chân ấy bước xuống sân, nhẹ đến mức tôi không chắc có nó, và đi về phía rừng.