Chương 11: Hai đôi dép ở cửa
Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem
Sáng hẳn, tôi mở bạt.
Hiên ướt sương. Dép anh Lâm ở chỗ anh Lâm, mũi quay vào. Dép rọ của tôi ở chỗ của tôi, mũi quay vào, quai vừa khâu còn sáng ánh dây thép.
Dép ông Phủ không còn ở chỗ ông Phủ.
Nó nằm ở giữa hiên, ngay trên tấm ván có cái ngưỡng cửa đục mộng. Hai chiếc dép lê đen sát nhau, gót chạm ngưỡng cửa, mũi quay ra sân, về phía lối mòn, về phía rừng. Lần này không ngay ngắn. Chiếc bên trái chếch hẳn sang, mũi nghiêng về phía thứ nằm cạnh nó, như người lớn cúi xuống nghe trẻ con nói.
Thứ nằm cạnh nó, cũng gót chạm ngưỡng cửa, cũng mũi quay ra rừng, là đôi giày vải trẻ con mũi thêu. Chiếc đứt chỉ giờ đã bung hẳn mũi, và cả hai chiếc lấm một lớp tro bếp mịn.
Hai đôi dép ở cửa. Một to, một bé. Cùng quay ra.
Tôi không động vào. Ông dặn.
* * *
Anh Lâm về lúc gần trưa, với ông Lử và bốn người đàn ông bản mới, có cả cái cáng vầu. Anh nhìn hiên. Anh không hỏi. Anh chỉ ngồi xuống bậc hiên rất lâu, rồi đứng dậy nói với ông Lử mấy câu. Ông Lử nhìn hai đôi dép. Ông không bước lên hiên. Nhưng ông cúi đầu, cúi lâu, kiểu người ta cúi trước một cái gì đã xong.
Chúng tôi lên bản. Ông Lử đi đầu, lần đầu tiên trong ba mươi tám năm, ông bảo thế.
Ông Phủ ngồi trong nhà, cái nhà không có cửa. Ông ngồi dựa vách, sát bếp lò ba hòn đá, hai tay đặt trên gối, chân trần. Cái địu thêu ở trong lòng ông, gấp gọn.
Mặt ông bình thường. Mắt nhắm. Cằm hơi gục. Như người ngồi đợi ai về, đợi lâu quá thì ngủ. Bát cơm bé đặt cạnh chân ông, đã vơi một nửa.
Trong bếp lò, tro còn ấm.
Ông Lử và bốn người đàn ông Mông làm những việc họ phải làm. Tôi không kể ở đây. Họ nói chuyện với ông Phủ bằng tiếng Mông, lâu, và họ gọi ông bằng cái tên ông đã nói với tôi. Rồi họ nói với anh Lâm, người của bản thì nằm với bản. Anh Lâm gật.
Giấy tờ liên đoàn sau này ghi chết do bệnh, mai táng tại chỗ theo nguyện vọng và phong tục địa phương. Không ai hỏi thêm. Ở liên đoàn, ông Phủ không có ai để hỏi thêm.
Họ chôn ông trên triền đồi, cạnh một cái gò bé xếp đá nhỏ. Ông Lử chỉ cái gò ấy. Trước cửa nhà, họ đặt đôi giày nhỏ, mũi quay ra rừng. Đôi dép lê đen thì ông Lử không cho mang lên, bảo đã có người quay cho ông ấy rồi. Sáu tấm ván hiên chúng tôi khiêng lên trả, dựng lại vào hai cây cột. Tôi vác tấm có ngưỡng cửa. Nó nặng hơn những tấm khác, hoặc là tôi thấy thế.
Xuống đến bãi, anh Lâm cầm đôi dép lê đen lên. Anh đưa cho tôi.
"Cậu cầm lấy. Ông ấy đi rồi thì dép để đây làm gì. Ở liên đoàn... chẳng ai thắp cho ông ấy nén hương nào đâu."
* * *
Dị thường từ ở Nậm Pá hoá ra nghèo quặng. Người ta không khoan thêm, không làm mỏ. Bản cũ vẫn ở đấy, cỏ tranh mọc tiếp. Anh Quý tập tễnh, về làm bảo vệ kho. Thằng Dũng nói lại được sau một tháng, bỏ nghề, về quê lấy vợ, không bao giờ nhắc chuyện ấy với tôi. Anh Lâm làm thêm mười năm rồi hưu. Đến giờ gặp nhau anh vẫn không hỏi tôi đêm ấy nghe thấy gì, và tôi không kể.
Tôi lấy vợ, hai đứa con, giờ ở Việt Trì, nhà có cái hiên lát gạch đỏ. Tôi bỏ nghề từ năm ba mươi tuổi. Không phải vì sợ. Vì cứ dựng lán ở đâu, tối tôi lại xếp dép cả đội cho thẳng, mũi quay vào, rồi ngồi ở cửa đến sáng. Người ta bảo tôi hâm.
Hai mươi lăm năm nay, sáng nào tôi cũng ra hiên nhìn xuống bậc cửa trước khi làm bất cứ việc gì khác. Nhìn dép mình, dép vợ, dép con. Mũi quay vào. Rồi mới đánh răng. Vợ tôi quen rồi, không hỏi nữa.
Đôi dép lê đen tôi giữ trong hòm, gói trong cái áo sơ mi trắng của ông. Mỗi năm một lần, đêm giỗ ông, tôi lấy ra, đặt ở bậc hiên, chỗ dép tôi, mũi quay vào nhà. Để ông có chỗ về, nếu ông về. Sáng ra tôi cất đi. Hai mươi bốn năm, đôi dép ấy chưa lần nào dịch đi một phân.
Đêm qua là giỗ ông.
Sáng nay tôi ra hiên. Dép ông Phủ vẫn chỗ tôi đặt, mũi quay vào. Dép vợ tôi, dép con tôi, nguyên.
Dép của tôi không còn ở bậc cửa.
Tôi tìm thấy nó ở ngoài cổng, trên nền xi măng ướt sương. Hai chiếc kề nhau, ngay ngắn, gót chạm chân cổng, mũi quay ra ngõ.
Tôi chưa ra lấy. Tôi vào ngồi viết nốt cái này đã.