Chương 4: Giữa bản không người
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Ngày thứ sáu, tuyến đo cắt qua bản cũ. Trên bản đồ nó là một đường thẳng, không biết đến nhà cửa. Anh Lâm nói đi qua cho nhanh, đo được đoạn nào thì đo, không được bỏ tuyến. Ông Phủ nói, giọng đều:
"Đi qua thì đi qua. Đừng động vào cái gì."
Chúng tôi lên theo lối mòn. Đi dưới rặng sa mộc một đoạn thì ra khoảng trống, và bản Sín Chải cũ hiện ra trước mặt, gần hơn tôi tưởng.
Chừng mười lăm nóc nhà, nằm rải trên một triền đất thoải. Nhà gỗ, vách ván, mái lợp ván pơ mu chẻ tay đã xám mốc, cong lên như vảy cá. Có nhà sập cả mái, chỉ còn bốn cột đứng trơ. Có nhà còn nguyên, cửa mở hé, tối om bên trong. Giữa bản một cái máng dẫn nước bằng thân cây khoét lòng, đã mục, nước không còn chảy. Cỏ tranh cao đến ngực mọc kín các lối đi giữa các nhà.
Không có tiếng gì. Chim cũng không. Tôi để ý vì ở rừng dưới, chim kêu suốt ngày.
Anh Lâm đặt máy ở đầu bản. Tôi vác mia đi dọc tuyến, Quý và Dũng phát cỏ tranh. Tuyến xuyên qua hai cái sân, sát một bức vách, qua một cái cối xay ngô bằng đá còn nguyên hai thớt, tay quay bằng gỗ đã mủn. Tôi dựng mia cạnh cối, chờ anh Lâm đọc số. Trong lúc chờ, tôi nhìn vào cửa cái nhà gần nhất.
Trước cửa, trên nền đất nện, có một đôi giày vải. Giày của người Mông, mũi tròn, đã mục đến mức chỉ còn hình dáng. Hai chiếc đặt sát nhau, ngay ngắn. Mũi giày quay ra ngoài, quay về phía rừng.
Tôi nhìn sang cái nhà bên. Cũng một đôi trước cửa, mục nát, mũi quay ra. Nhà bên nữa, hai đôi, một đôi to một đôi nhỏ, mũi quay ra. Nhà nào cũng có. Suốt dọc tuyến, không một đôi nào quay vào.
Ông Phủ đi sau, đến chỗ tôi đóng cọc mốc. Ông thấy tôi nhìn. Ông nói, không đợi tôi hỏi:
"Người chết thì dép quay ra. Để hồn biết lối đi, không quay về quấy người sống."
Tôi hỏi sao bác biết. Ông đóng cọc xong mới trả lời.
"Ba mươi năm Tây Bắc. Cái gì chả thấy."
* * *
Chúng tôi đo qua được nửa bản thì tuyến đâm vào một cái nhà. Anh Lâm bảo đo vòng, nhưng phải vào trong xác định điểm để nối. Cái nhà ấy ở giữa bản, mái còn nguyên, chính là nóc nhà hôm trước có khói. Và nó không có cửa. Cả mảng vách trước, chỗ cửa ra vào, đã bị tháo đi, trơ hai cây cột cái có lỗ mộng.
Anh Quý đứng khựng. Rồi anh nói, giọng khô:
"Nhà này. Hôm trước bọn em lấy ván ở nhà này."
Ông Phủ đã đi thẳng đến cái nhà ấy từ trước khi Quý nói. Ông đi như người ta đi về, không nhìn đường, qua bụi tranh, qua cái cối đá, dừng trước hai cây cột. Quý hỏi sao bác biết ngay nhà này. Ông bảo, nhìn là biết, cả bản có mỗi nhà này mất cửa.
Chúng tôi bước vào. Trong nhà tối và lạnh hơn ngoài trời. Nền đất nện. Giữa nhà một bếp lò kê ba hòn đá, tro trong lò xám, khô, không có mùi khói.
Tôi cúi xuống sờ. Tro nguội hẳn, nguội đến tận đáy, như mấy chục năm không ai đốt. Nhưng xung quanh ba hòn đá, nền đất sạch, không một cọng cỏ, không mạng nhện. Như có người quét.
Trên vách treo một cái gùi đã mục quai. Một chảo gang rỉ. Một cái gác bếp bằng tre, trên đó còn mấy bắp ngô đã khô đen thành than.
Thằng Dũng tìm thấy cái địu ở góc nhà, dưới gác. Địu trẻ con, bằng vải lanh, thêu hoa văn đỏ chàm đã bạc, dây đeo rách. Dũng nhấc lên, phủi bụi. Dưới cái địu là một đôi giày vải trẻ con, bé bằng bàn tay, mũi thêu, một chiếc đã đứt chỉ.
"Bác ơi, cái này của trẻ con này."
Ông Phủ quay lại. Và tôi nghe thấy giọng ông vỡ ra, chỉ một tiếng, trước khi ông kịp kìm lại.
"Để xuống."
Dũng để xuống. Ông Phủ đến, cầm cái địu đặt lại đúng chỗ cũ, đặt đôi giày nhỏ lên trên, cẩn thận, hai tay. Rồi ông đứng dậy đi ra, không nhìn ai, đứng ngoài sân quay lưng vào nhà cho đến khi chúng tôi đo xong.
* * *
Cuối tuyến, lên khỏi bản một đoạn, anh Lâm tìm thấy nghĩa địa. Một triền đồi thoải, cỏ ngắn, rải rác những gò đất thấp xếp đá hộc xung quanh. Nhiều lắm. Tôi đếm được bốn mươi mấy thì bỏ. Có những gò chỉ dài bằng một sải tay. Có những gò ngắn hơn, bằng một cánh tay. Đá xếp quanh những gò nhỏ ấy cũng nhỏ, vừa tay trẻ con cầm.
Không ai nói gì. Anh Lâm thu máy. Chúng tôi xuống núi lúc nắng bắt đầu tắt, đi nhanh, không nghỉ.
Về đến bãi thì sương đã xuống. Thằng Dũng đi đầu, bước lên hiên trước. Nó đứng sững lại.
Trên hiên, chỗ chúng tôi để dép mỗi tối, có mùi tro bếp. Mùi tro nguội, ẩm, giống hệt mùi trong căn nhà không cửa trên kia.
Chen giữa đôi dép rọ của tôi với đôi dép Lào của Dũng là đôi giày vải trẻ con mũi thêu, một chiếc đứt chỉ, bé bằng bàn tay. Nó cũng quay mũi vào lán. Ngay ngắn, như của một đứa trẻ vừa cởi ra để chạy vào nhà.
Dũng lắp bắp, nó đã để lại, ông Phủ tự tay để lại, mọi người đều thấy. Không ai cãi. Không ai lên hiên.
Ông Phủ đi qua chúng tôi. Ông cúi xuống nhặt đôi giày nhỏ, cầm bằng hai tay như bưng bát nước đầy, rồi đi ngang bãi, đến đầu lối mòn lên bản, chỗ rặng sa mộc bắt đầu. Ông đặt đôi giày xuống đất ở đó, mũi quay lên núi, quay về phía bản.
Ông đứng đấy lâu lắm, trong sương, lưng còng xuống. Môi ông mấp máy. Tôi không nghe được gì.
Khi ông quay về, mặt ông ướt. Có thể vì sương. Ông đi lên hiên, xếp lại năm đôi dép cho thẳng, rồi nói:
"Ngủ đi. Đêm nay tôi thức."