Chương 12: Trăm ngày
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Không ai làm gì đêm đó. Đó là điều tôi vẫn không giải thích được với chính mình. Danh đứng ở chân cầu thang. Tôi đứng trước cái ghế mây. Dì Út đứng trước bàn thờ. Chị Loan hỏi chuyện gì vậy, hỏi ba lần, không ai trả lời.
Cái Ô-đô chạy. Rồi Danh quay lưng đi lên lầu, chậm, như người lớn tuổi, tiếng chốt cài.
Dì Út ngồi xuống bộ ván. Bà nói với tôi, không nhìn tôi:
"Anh về đi. Sáng mốt cúng, anh đừng lên."
Tôi hỏi bà tính sao. Bà nói bà không biết. Bà nói nó là con chị dâu bà, bà bồng nó từ hồi nó đỏ hỏn. Bà nói tới đó thì thôi, cúi xuống mò trên gạch bông, lượm lại từng hột chuỗi rơi hồi khuya.
Tôi về lúc năm giờ sáng. Trời Gò Vấp xám, xe bánh mì đã ra, tiếng loa phường thử máy. Tôi để chiếc nhẫn với cái lắc lên bàn thờ ông Hai Lợi trước khi đi. Dì Út thấy, không nói gì.
* * *
Về tới tiệm, tôi mở cửa, đứng ở ngưỡng.
Cả tiệm đang chạy. Hơn hai mươi cái đồng hồ tôi không đụng tới từ hôm gói cái Ô-đô đem đi, cái nào cũng chạy, chỉ giờ sai lung tung, mỗi cái một nhịp, chồng lên nhau, lộn xộn như hồi tôi còn nhỏ. Cái Junghans của ba tôi trên cao, mặt kính còn đường nứt chéo, đanh và đều. Tôi đứng nghe một lúc lâu. Rồi tôi vô mở ngăn kéo, lấy cái Seiko của ba tôi ra. Kim giây đang đi.
Tôi lên Bình Chánh đón vợ con chiều đó. Vợ tôi không hỏi gì. Con tôi hỏi ông già còn ngồi bàn ba không, tôi nói ông về nhà ông rồi.
Hai hôm sau, tôi không lên Gò Vấp. Nhưng tôi nghe kể, qua ông Tám Lượng, vì cả hẻm trên đó kể. Cúng trăm ngày ông Hai Lợi, cái đồng hồ trên tường chạy suốt buổi, gõ nhạc đúng giờ, trong và tròn, ai tới thắp nhang cũng ngẩng lên coi. Người ta nói ông Hai đã đi. Người ta nói ông Hai không giận ai trong nhà. Thằng cháu đứng bưng lư hương, mặc áo dài tay.
Căn nhà, tới giờ, vẫn đứng tên Danh. Dì Út không làm gì. Tôi cũng không. Tôi có đi tới đồn công an phường một lần nữa, đứng ngoài cửa lâu hơn lần trước, rồi về. Tôi không có gì ngoài một cái bóng trong mặt kính và một chiếc nhẫn tôi đã trả lại. Tôi nói với mình nhiều lần như vậy. Tôi biết đó là lý do, và tôi biết nó cũng là cái cớ.
* * *
Chuyện đó hơn hai mươi năm rồi. Tiệm tôi vẫn ở hẻm Nguyễn Trãi, con tôi lớn, đi làm ngân hàng, vợ tôi vẫn phụ sạp ở An Đông dù má cô mất lâu rồi. Khách sửa đồng hồ cơ ít dần, giờ người ta coi giờ trên điện thoại, tôi sống bằng thay pin với sửa đồng hồ treo tường cho mấy quán cà phê. Tường tiệm thưa hơn xưa. Nhưng vẫn là mưa trên mái tôn, và tôi vẫn nghe được từng cái.
Tôi còn một chuyện không kể với ai, kể cả vợ tôi.
Từ đêm ở Gò Vấp về, tôi thức dậy mỗi đêm lúc ba giờ mười lăm. Không chuông, không mùi dầu gió, không tiếng gõ. Tôi chỉ mở mắt, và giờ đó.
Tôi nằm nghe tiệm dưới nhà chạy lộn xộn, và trong một hơi thở, tất cả tụi nó bước một chân. Một nhịp thôi. Rồi lộn xộn lại. Hai mươi năm, đêm nào cũng một nhịp. Tôi chưa bao giờ thay cái mặt kính nứt của cái Junghans. Tôi nằm chờ cái nhịp đó qua rồi mới ngủ lại được.
Danh không xuống tiệm tôi nữa. Tôi nghe ông Tám nói anh ta còn ở căn nhà đó, một mình, dì Út mất năm 2011, chị Loan bán nhà dọn đi. Người ta nói anh ta không lấy vợ. Người ta nói đêm nào đèn phòng khách nhà đó cũng sáng tới gần sáng.
Năm ngoái, một chiều mưa đầu mùa, hẻm ngập tới mắt cá. Có tiếng xe tắt máy trước cửa. Tôi ngẩng lên khỏi kính lúp.
Một người đàn ông ngoài năm mươi, tóc bạc nhiều, gầy, áo sơ mi dài tay, bước vô tiệm. Ôm trước ngực một gói dài bọc trong mền, nước mưa ướt hết vai. Anh ta đặt lên bàn thợ, không mở mền, không chào. Anh ta nói nhỏ nhẹ như xưa.
"Nó dừng lại rồi, anh Tư. Hai tuần nay."
Tôi mở mền. Mặt số men trắng rạn chân chim. Hai cây kim chắp lại.
Anh ta nói, dì anh ta trước khi mất có dặn, nó chạy là nhờ anh Tư ngồi. Giờ nó không chạy nữa. Anh ta nói, anh ngồi giùm tôi một đêm nữa. Một đêm thôi.
Tôi không trả lời. Tôi cúi xuống nhìn cái đồng hồ. Và trong mặt kính tròn hắt ánh đèn bàn thợ, tôi thấy anh ta đi vòng ra sau lưng tôi, đứng lại. Tôi nghe hơi thở anh ta sau gáy mình, chậm, hơi khò khè, hơi thở của người đã già.
Tôi không quay lại.