☾ Truyện Ma Có Thật
← Ba giờ mười lăm

Chương 8: Chỉ vàng trả công

Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem

Sáng ra vợ tôi nói một câu rồi thôi. Hoặc cái đồng hồ đó ra khỏi nhà, hoặc mẹ con cô về ngoại ở Bình Chánh. Tôi nói để tôi gọi người ta.

Tôi gọi vào số quán cà phê. Một bà bắt máy, tôi nói nhờ kêu giùm anh Danh nhà trong hẻm, nói thợ đồng hồ Quận 5 kêu lên lấy. Bà hỏi lại, Danh nhà ông Hai Lợi hả. Tôi nói phải. Bà im một lúc rồi nói để bà kêu.

Danh xuống chiều đó. Vẫn áo dài tay, vẫn dựng xe rồi đứng ngoài cửa kính nhìn lên tường trước khi vô. Lần này anh ta nhìn lâu hơn, vì bức tường đã khác. Hai mươi mấy cái đồng hồ đứng im, mặt nào cũng như đang nín thở. Chỉ còn cái Junghans của ba tôi trên cao.

Anh ta bước vô. Tôi không mời ngồi. Tôi kể hết. Tiệm tôi dừng theo nó. Tôi lên Gò Vấp gặp ông Tám. Tôi gặp dì Út. Tôi đã ngồi.

Khi tôi nói tới chữ ngồi, anh ta nhìn tôi.

"Nó chạy qua chừng nửa phút. Lúc tôi ngồi. Tôi đứng dậy nó dừng."

Anh ta không nói gì một lúc lâu. Mặt anh ta trắng đi dưới nắng chiều xiên qua cửa kính, không phải trắng vì sợ, mà như người vừa được chỉ cho đường ra khỏi một cái hầm. Rồi anh ta nói, giọng khàn:

"Vậy anh ngồi đi."

Tôi hỏi, ngồi cái gì. Anh ta nói nhanh, lần đầu tiên tôi thấy anh ta nói nhanh.

"Anh đem nó về nhà, treo chỗ cũ, anh ngồi cái ghế đó. Nó chạy. Tôi kêu dì tôi, con Loan, cả hẻm tới coi. Nó chạy qua ba giờ mười lăm, trước mặt mọi người. Vậy là xong. Tôi trả anh gấp đôi. Gấp ba."

Tôi nói tôi không hiểu. Nó chạy vì tôi ngồi thì liên quan gì tới anh. Anh ta nhìn xuống bàn.

"Dì tôi nói, nó chạy là cậu tôi tha. Tha cho ai ở trong nhà lúc đó. Dì tôi đã nói vậy trước cả hẻm. Nó chạy là tôi sống được ở cái hẻm đó. Không chạy là tôi đi."

Tôi hỏi, sao anh không ngồi. Anh ta không trả lời. Anh ta đi vòng ra sau lưng tôi, như mọi lần, nhưng lần này tôi xoay ghế lại ngay, nhìn thẳng. Anh ta đứng khựng, hai tay buông. Chúng tôi nhìn nhau một lúc.

"Tôi không ngồi được. Tôi ngồi là cậu tôi không chịu."

"Sao anh biết."

"Tôi biết."

* * *

Tôi nói để tôi nghĩ. Anh ta nói không còn thời gian, trăm ngày là bốn hôm nữa. Rồi anh ta móc túi quần, lấy ra một gói giấy báo nhỏ, mở ra đặt lên bàn thợ.

Một chiếc nhẫn vàng trơn, loại nhẫn một chỉ người ta để dành, và một cái lắc tay nhỏ, cũng vàng, đứt móc.

"Tôi hết tiền mặt. Anh cầm đỡ. Anh đem ra tiệm vàng bán, dư bao nhiêu anh cứ giữ."

Tôi đẩy lại. Tôi nói tôi lấy tiền công sửa đồng hồ, không lấy vàng. Anh ta để tay lên gói giấy, giữ nó lại trên bàn. Tay anh ta gầy, gân nổi, và lúc với tay, ống tay áo sơ mi tuột lên một đoạn. Trên mặt trong cổ tay trái, chỗ mạch đập, có ba vết sẹo mảnh song song, hồng nhạt, dài bằng đốt ngón tay, đã lành nhưng còn mới.

Anh ta thấy tôi nhìn. Anh ta kéo ống tay xuống, từ tốn, không vội, như người đã quen kéo.

"Anh giữ giùm. Coi như đặt cọc. Tôi tới bốn hôm nữa mà anh không chịu thì anh trả lại."

Anh ta đi. Lần này không ngoái lại nhìn bức tường.

Tôi ngồi với gói giấy báo trên bàn. Chiều xuống. Tôi không bật đèn.

Tôi nghĩ tới ba vết sẹo. Tôi nghĩ tới cái tay đưa cao trong mặt kính, cầm một cái gì ngắn, đen, nặng. Tôi nghĩ tới ông Hai Lợi, thợ kim hoàn, bị đánh từ sau lưng mà hai mắt mở, nhìn cái đồng hồ. Người thợ kim hoàn bảy mươi tư tuổi, lúc bị đánh, có đưa tay ra sau quờ không. Có bấu được cái gì không.

Mèo cào. Nhà này không có mèo.

Tôi lấy cái kính lúp một mắt đeo vô, như một thói quen, soi chiếc nhẫn. Vàng ta, màu đậm, mòn đều, đeo lâu năm. Mặt trong nhẫn mờ mờ có khắc chữ. Tôi xoay ra ánh sáng cuối cùng của cửa kính. Không phải chữ của tiệm vàng, không phải chữ tuổi vàng. Một chữ Lợi, khắc tay, nét mảnh, đẹp, cái kiểu khắc của người làm nghề quen tay.

Tôi bỏ kính lúp xuống. Tôi gói nhẫn lại, bỏ vô ngăn kéo khóa, cùng với cái Seiko của ba tôi đang đứng.

Trên tường, cái Junghans của ba tôi điểm sáu giờ. Tiếng nó mỏng như tiếng chuông chùa xa. Và trong khi nó điểm, tôi nghe trong tiệm tối một tiếng khác chen vô, lẫn vào tiếng chuông, đúng một lần. Tiếng dép lê trên nền gạch, một bước, sau lưng tôi, rồi thôi.