☾ Truyện Ma Có Thật
← Ghe khoai lúc sương xuống

Chương 4: Hộp sắt dưới ván sàn

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Sáng ra tôi không đi chợ. Tôi đặt cây kẹp con bướm lên cái mâm nhôm, ngay chỗ ba ngồi uống trà mỗi sáng, rồi ngồi đợi.

Ba bước ra khỏi khoang, thấy nó, đứng khựng lại.

Tôi đã tính sẵn mấy câu để hỏi. Mà nhìn mặt ba, tôi không hỏi được câu nào. Mặt ba không sợ. Mặt ba giống mặt người bị ai đánh trúng một chỗ đau cũ, đau tới mức quên cả tức giận.

Ba ngồi xuống, cầm cây kẹp lên. Ngón tay cái ba vuốt lên cái cánh bướm bị mẻ, vuốt đi vuốt lại. Tay ba run, nhưng ba giữ cây kẹp rất nhẹ, như sợ nó bể thêm.

Tôi nói nó nằm trong cục đất sét. Tôi nói bà cụ bán khoai tả con Mỹ có nốt ruồi dưới mắt trái, tóc dài, hay vấn kẹp. Tôi nói ba nói thiệt đi ba, có phải bà đó hỏi má con không.

Ba bỏ cây kẹp vô túi áo, đứng dậy.

"Bữa nay con nghỉ bán đi. Ba đi công chuyện."

Ba tháo dây cái xuồng của tôi, nổ máy, chạy ra khỏi rạch. Ba không mang theo gì, không nón, không áo khoác. Tôi đứng ở mũi ghe nhìn theo tới khi xuồng quẹo khuất sau mấy bụi dừa nước.

* * *

Ba có một cái hộp sắt. Tôi biết từ nhỏ. Nó nằm dưới một tấm ván sàn rời ở góc khoang, chỗ ba ngủ. Hồi nhỏ tôi lén mở một lần, bị ba bắt gặp, ba không đánh nhưng ba nhìn tôi bằng một ánh mắt làm tôi khóc suốt buổi chiều. Từ đó tôi không đụng tới nữa.

Hôm đó tôi cạy tấm ván lên.

Cái hộp là hộp đựng bánh trung thu loại xưa, gỉ sét ở bốn góc. Trong đó có giấy tờ nhà, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của tôi. Một xấp tiền cũ đã hết xài, gói trong bao nilon. Một cái đồng hồ đeo tay dây da đã đứt.

Và một tấm hình.

Hình đen trắng, cỡ bàn tay, mép đã quăn. Trong hình là một chiếc ghe bầu chở lúa, mũi ghe sơn hai con mắt, ghe chở đầy bao lúa chất cao. Đứng ở mũi ghe là một người con trai ốm, ở trần, cười hở răng. Tôi nhận ra ba tôi hồi hai mươi mấy tuổi, khi tóc còn đen và mặt còn chưa có cái nếp nhăn giữa hai chân mày.

Đứng cạnh ba là một cô gái. Mặc áo bà ba trắng, tóc dài vấn lên. Trên mái tóc có một cây kẹp nhỏ hình con bướm. Cô đứng nghiêng, mặt quay một nửa về phía ống kính, không cười. Hình đen trắng mà tôi vẫn thấy được chấm nhỏ dưới mắt trái cô.

Mặt sau tấm hình có một hàng chữ viết bằng bút bi, nét chữ của ba: "Ghe Phước Lộc, tháng Chín năm Tân Mùi. Mỹ mười tám."

Tân Mùi là năm 1991. Tôi sinh năm 1992.

Tôi ngồi đó, ôm tấm hình. Tôi nghĩ tới câu bà cụ nói, năm nay nó mười tám. Năm nay. Như thể với bà, năm nay vẫn là năm Tân Mùi.

* * *

Dưới đáy hộp, nằm riêng trong một cái khăn tay cũ, có một miếng gỗ.

Miếng gỗ cỡ bàn tay, dày, một đầu gãy lởm chởm. Mặt trên sơn đỏ và đen. Tôi lật qua lật lại mới hiểu đó là một mảnh của con mắt sơn trên mũi ghe. Nửa con ngươi đen, một phần lòng trắng, viền đỏ. Chỗ gãy đã bị mài cho bớt sắc, như có người cầm nó trong tay nhiều năm.

Tôi nhìn lại tấm hình. Mũi ghe Phước Lộc, con mắt bên trái.

Tôi gói miếng gỗ lại trong cái khăn, để vô hộp đúng chỗ cũ, đậy tấm ván. Tấm hình thì tôi giữ. Tôi không biết vì sao tôi giữ, chỉ biết nếu bỏ nó lại trong hộp thì tôi sẽ không bao giờ dám cạy tấm ván đó lên lần thứ hai.

* * *

Ba về lúc gần tối, đi bộ từ đầu hẻm ra bến, xuồng thì gửi ở đâu không biết. Người ba nồng mùi rượu. Ba ngồi phịch xuống sàn ghe, không ăn cơm. Tôi rót cho ba ly nước trà, ngồi xuống đối diện.

"Má con là người Ba Láng phải không ba?"

Ba nhìn ly trà. Lâu lắm. Rồi ba gật đầu một cái, nhỏ tới mức nếu không chăm chú thì tôi đã không thấy.

"Bên ngoại con còn ai không?"

"Hết rồi."

"Hết là sao ba?"

Ba uống một hớp trà, tay run làm nước sóng ra ngoài.

"Con đừng đi Ba Láng. Con đừng ra chợ lúc sương. Mấy bữa nữa thôi, qua ngày mười sáu là hết sương. Con nghe ba lần này thôi."

Tôi hỏi ngày mười sáu là ngày gì. Ba không trả lời. Ba đứng dậy, đi vô khoang. Tôi nghe tiếng ván sàn kêu cót két ở góc khoang, rồi tiếng nắp hộp sắt mở ra. Rồi im. Một lúc lâu, tôi nghe tiếng ba thở hắt ra, kiểu người vừa đếm lại một thứ gì và thấy thiếu.

Ba không ra hỏi tấm hình đâu. Ba không nói gì cả.

* * *

Nửa đêm, điện thoại của ba reo.

Cái điện thoại Nokia cục gạch ba để trên đầu nằm, tiếng chuông là bài nhạc cài sẵn kêu tít tít. Tôi nằm bên này tấm màn, thấy ánh màn hình xanh hắt lên mái tôn. Mấy bữa nay nó reo hoài, toàn một số lạ, ba không bao giờ bắt.

Lần này ba cũng không bắt. Ba để nó reo tới khi tự tắt. Rồi máy kêu một tiếng tít ngắn, có tin nhắn.

Tôi nghe tiếng ba bấm phím. Ánh xanh sáng lên rất lâu, lâu hơn thời gian người ta cần để đọc một tin nhắn. Rồi tắt.

Trong bóng tối, giọng ba nói khẽ, không phải nói với tôi:

"Đừng về. Trời ơi, đừng về lúc này."