☾ Truyện Ma Có Thật
← Ghe khoai lúc sương xuống

Chương 5: Ghe xăng ông Tám

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Ông Tám bán xăng dầu trên chiếc ghe sơn xanh neo gần vàm, chỗ con rạch Cái Răng Bé đổ ra sông. Ông bán ở đó từ hồi tôi chưa sinh ra. Ghe ông chất mấy chục can nhựa đủ màu, một cái bơm tay, một cái cân, và một cái ghế bố cũ để ông ngồi suốt ngày. Ông ít nói, nhưng ai trên khúc sông này cũng biết ông nhớ dai nhất chợ.

Tôi ghé ghe ông lúc chín giờ sáng, khi chợ đã thưa. Tôi rót cho ông ly cà phê đen không đường, loại ông vẫn uống, rồi không lấy tiền.

Ông nhìn tôi, nhíu mày. "Có chuyện gì nhờ tao hả?"

Tôi hỏi ông có biết một bà cụ người Ba Láng, hồi xưa chèo xuồng bán khoai luộc ở chợ này không.

Ông Tám đặt ly cà phê xuống ván ghe. Ông nhìn ra mặt sông một lúc rồi mới nói.

"Bà Chín. Chín Khoai. Ở Ba Láng, nhà gần vàm Cái Sơn."

* * *

Ông kể chậm, kiểu người đã lâu không kể cho ai nghe.

Hồi đó chợ nổi còn neo ở khúc dưới, gần chỗ bây giờ người ta làm bến tàu du lịch. Bà Chín góa chồng sớm, nuôi mấy đứa con bằng nghề luộc khoai đem ra chợ bán. Khoai bà mua ở ghe Vĩnh Long, về luộc bằng nồi đất, chụm rơm, ủ trong lá chuối. Trời chưa sáng bà đã chèo ra tới chợ, cây bẹo treo một chùm khoai đỏ. Người buôn bán trên ghe thức sớm, đói, ai cũng mua của bà một hai củ.

"Bả chèo êm lắm," ông Tám nói. "Hồi đó tụi tao giỡn, nói xuồng bả trườn tới sát lưng mà không ai hay."

Mấy đứa con lớn của bà lần lượt có chồng, đi xa. Còn đứa con gái út ở với bà. Ông Tám không nhớ tên, chỉ nhớ nó trắng, đẹp, hay theo má ra chợ ngồi phụ bán.

Năm đó, tháng Mười, đứa con gái út bỏ nhà đi. Đi theo một thằng chạy ghe. Ông nói chuyện đó cả chợ biết, vì bà Chín đi hỏi từng ghe một.

"Bả không đi bán nữa. Sáng nào bả cũng chèo ra, mà nồi khoai cứ để nguyên đó. Bả ghé từng ghe hỏi có thấy con bả không. Hỏi ghe lúa, ghe khóm, ghe dừa. Hỏi tới người ta ngán, thấy bả là quay mặt chỗ khác."

Ông Tám dừng lại, uống một hớp cà phê.

"Bả kiếm vậy hơn một tháng. Tới ngày mười sáu tháng Mười Một. Sương bữa đó dày nhất cái năm. Dày như bữa mùng bốn mới rồi đó con."

Tôi ngồi im. Tay tôi cầm cái quai bình thủy, bóp chặt.

"Bả chèo ra vàm. Có người nói bả nghe ai chỉ, nói thấy con bả trên một chiếc ghe sắp chạy xuống Sóc Trăng. Bả chèo theo. Sương vậy mà chèo theo ghe người ta."

Rồi ông nói tới cái tiếng. Ông nói sáng hôm đó người trên mấy ghe neo gần vàm đều nghe. Tiếng máy ghe lớn, chạy nhanh, từ trong rạch ra. Rồi một tiếng rầm, tiếng gỗ bể răng rắc. Rồi tiếng đàn bà kêu, một tiếng dài, kêu một cái tên mà ông không nghe ra. Rồi tiếng máy ghe vẫn chạy, không chậm lại, xa dần, xa dần về phía sông cái.

"Sương tan thì thấy cái xuồng ba lá bể làm đôi, trôi tấp vô bụi bần. Cái nồi đất bể. Khoai nổi lềnh bềnh khắp vàm. Cái nón lá trôi ra tới giữa sông, có thằng nhỏ bơi ra vớt."

"Còn bà Chín?"

"Không ai kiếm được. Người nhà mò ba ngày ba đêm, kêu thầy về vớt hồn, cũng không thấy. Chỗ vàm đó nước xoáy, đáy toàn bùn sét. Người ta nói nó nuốt luôn rồi."

* * *

Tôi hỏi cái ghe đụng bà là ghe của ai.

Ông Tám lắc đầu. Ông nói không ai thấy. Sương vậy, đứng trên ghe còn không thấy mũi ghe mình. Có người đoán ghe lúa, vì sáng đó có mấy chiếc ghe lúa chạy hàng xuống Sóc Trăng. Mà ghe lúa thì cả trăm chiếc, ai biết chiếc nào.

Không ai đi thưa. Người chết không có xác, người đụng không có mặt. Chuyện trên sông hồi đó, nhiều khi thôi vậy là thôi.

"Từ đó tới giờ," ông Tám nói, giọng nhỏ hơn, "năm nào sương dày, mấy người buôn bán lâu năm cũng có người nghe mùi khoai luộc. Có người thấy cái xuồng ba lá chèo không có tiếng. Tụi tao dặn nhau, gặp thì đừng mua, đừng trả lời. Bả hỏi gì cũng đừng trả lời. Bả còn đi kiếm. Kiếm hoài chưa gặp."

Tôi hỏi, giọng tôi khô khốc, nếu có người trả lời thì sao.

Ông Tám nhìn tôi lâu lắm. Ông nhìn xuống bàn tay tôi, rồi nhìn lên mặt tôi, dừng ở chỗ gò má trái, chỗ cái dấu xám xanh hôm qua giờ chỉ còn là một vệt mờ như vết bầm cũ.

"Mày gặp bả rồi phải không?"

Tôi không trả lời. Ông Tám thở dài.

"Có người nói bả kiếm được người thì bả dắt đi. Có người nói bả kiếm được thì bả thôi. Tao không biết cái nào thiệt. Tao chỉ biết mấy người trả lời bả, sau đó ít ai còn buôn bán ở chợ này."

* * *

Tôi đứng dậy, cảm ơn ông, bước xuống xuồng. Tôi gỡ dây khỏi cái cọc ghe ông thì ông kêu lại.

"Mà mày là con ai? Tao thấy mày bán ở đây mười mấy năm mà quên hỏi."

"Dạ, con ông Tư Tấn. Ghe nhà ở rạch chân cầu."

Ông Tám không nói gì. Ông đang rót dầu từ can lớn qua can nhỏ, tay ông dừng lại giữa chừng, dầu tràn ra ván ghe, loang thành một vệt bóng nhẫy. Ông không lau.

"Tư Tấn. Người Phụng Hiệp phải không?"

"Dạ."

"Hồi trước chạy ghe lúa?"

"Dạ. Sao ông biết?"

Ông Tám cúi xuống, lấy cái giẻ lau vệt dầu, lau rất lâu, lau cả chỗ không có dầu. Tôi đứng đợi. Ông không ngẩng lên.

"Ba mày có hay ra sông lúc sương không?"

"Dạ không. Ba con sợ sương lắm."

Ông Tám gật đầu, chậm rãi. Ông kéo tấm bạt phủ lên mấy can dầu, dù trời đang nắng.

"Ừ. Biết sợ là tốt."