Chương 8: Mộ gió ở Ba Láng
Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem
Ngày mười ba tôi đi Ba Láng. Tôi nói với ba là đi lấy đá ở vựa bên Hưng Phú. Ba đang ngồi vá lưới, không ngẩng lên, chỉ dặn về trước tối.
Tôi đi xe ôm ra quốc lộ, rồi quẹo vô con đường đất dọc rạch, hai bên toàn vườn với mương. Tôi hỏi thăm nhà bà Chín Khoai ở gần vàm Cái Sơn. Mấy người trẻ lắc đầu. Tới một bà cụ ngồi lựa rau muống trước sân, bà nhìn tôi lâu, rồi chỉ vô một con đường mòn.
"Nhà con Tư Lụa. Con gái bà Chín đó. Mà con là ai?"
Tôi chưa kịp trả lời, bà đã đưa tay lên chỉ vô mặt tôi, ngón tay run run chỉ đúng chỗ nốt ruồi.
"Trời đất. Con của con Mỹ."
* * *
Dì Tư Lụa ngoài năm mươi, ốm, đen, tóc búi củ hành. Dì bán bánh lá dừa ở chợ Ba Láng, chiều về ngồi gói bánh trước hiên. Thấy tôi bước vô sân, dì đứng dậy, tay còn cầm miếng lá dừa. Dì nhìn tôi như nhìn một người đã chết.
Tôi nói con tên Diễm, con của má Mỹ.
Dì không mời tôi vô nhà. Dì đứng đó, môi mím lại, rồi dì nói một câu mà tới giờ tôi còn nhớ từng chữ:
"Hai mươi ba năm. Giờ con nó mới mò về."
Rồi dì quay lưng, đi ra phía sau vườn. Tôi đi theo.
Mộ bà ngoại nằm giữa vườn chuối, đắp bằng đất, xây gạch thấp, quét vôi trắng đã ngả vàng. Tấm bia xi măng khắc chữ đã mờ: "Nguyễn Thị Chín. Mất ngày 16 tháng 11 năm Tân Mùi." Không có ngày sinh. Không có hình.
"Mộ gió," dì Tư nói. "Không có xác. Trong đó chôn cái nón với cái áo bà ba của má. Thầy nói phải chôn vậy cho má có chỗ về."
Dì ngồi chồm hổm, nhổ mấy cọng cỏ quanh mộ. Dì nói má về hay không thì dì không biết. Chỉ biết từ khi đắp mộ, năm nào tới mùa sương, dì cũng nghe mùi khoai luộc ngoài vàm. Mấy năm đầu dì còn chạy ra coi. Sau thì thôi.
* * *
Tôi hỏi dì về má. Dì im rất lâu.
"Nó bỏ đi theo thằng chạy ghe. Má đi kiếm nó, chết. Nó về, biết chuyện, khóc lăn lóc ở đây, rồi đi. Đám tang không về. Đám giỗ không về."
Dì ngưng tay nhổ cỏ.
"Có một lần nó về. Năm chín mấy, chín chín hay hai ngàn gì đó. Nửa đêm, một mình, không báo ai. Dì nghe chó sủa, ra coi, thấy nó quỳ ở đây. Nó ốm lắm, tóc rối. Dì đứng sau bụi chuối nghe nó nói."
"Má con nói gì vậy dì?"
Dì Tư nhìn tôi. Ánh mắt dì không còn giận. Chỉ mệt.
"Nó nói, má kêu con mà con biểu ảnh chạy. Nó nói câu đó hoài. Má kêu con mà con biểu ảnh chạy. Dì không hiểu. Dì bước ra hỏi, nó thấy dì thì đứng dậy chạy luôn. Từ đó tới giờ dì không gặp lại."
Tôi nghe trong ngực có cái gì đó lạnh đi một khúc. Năm chín chín, hai ngàn. Năm tôi tám tuổi. Năm má bỏ đi.
Tôi hỏi dì có ai khác đi thăm mộ bà không. Dì nói mấy anh chị lớn ở xa, Tết mới về. Rồi dì nói thêm, giọng nhỏ hơn:
"Mà năm nào cũng vậy. Sáng ngày mười sáu, trước khi dì ra vườn thắp nhang, đã có ai thắp rồi. Một bó nhang, một nải chuối, có khi một chai rượu đế. Hai mươi mấy năm, không sót năm nào. Dì không biết ai. Dì có rình mấy lần mà không gặp. Người đó tới lúc còn sương."
Tôi nghĩ tới ba. Ba không bao giờ ra sông lúc sương. Ba nói ba sợ.
Có một năm tôi thức dậy lúc trời còn tối, thấy chiếc xuồng không còn ở chỗ cột. Ba về khi nắng đã lên, quần ướt tới đầu gối, nói đi thăm người quen. Hôm đó là ngày nào thì tôi không nhớ. Mà tôi nhớ đó là mùa sương.
* * *
Dì Tư đứng dậy, phủi tay. Dì nói con về đi, trời sắp tối, đường Ba Láng không có đèn. Dì nói câu đó mà không nhìn tôi.
Rồi dì nói thêm:
"Năm nay sương dày giống năm má mất. Mấy đêm nay dì nghe mùi khoai ngay trong vườn, ngay đây. Con nói với con Mỹ, nếu nó có tính về thì đừng về mùa này."
Tôi hỏi sao dì biết má đang tính về. Dì Tư không trả lời. Dì chỉ xuống chân mộ.
Ngay trước tấm bia, chỗ người ta cắm nhang, có hai cục đất sét xám xanh dính vào nhau. Ướt, còn bóng nước, như vừa mới nắn. Lần này dấu ngón tay không nằm riêng từng cục. Dấu ngón của cục này lồng vô kẽ ngón của cục kia, như hai bàn tay đan chặt lấy nhau, một bàn lớn, một bàn nhỏ hơn. Đất ở vườn chuối này là đất thịt màu nâu đỏ. Không có chỗ nào có đất sét xám xanh như vậy, trừ dưới đáy vàm.
Và nằm lọt giữa hai bàn tay đất ấy là một cây kẹp tóc nhựa đỏ hình con bướm, một bên cánh mẻ.
Tôi đứng chết trân. Lần cuối tôi thấy cây kẹp đó, ba bỏ nó vô túi áo rồi chạy xuồng đi mất, cái ngày tôi cạy hộp sắt dưới ván sàn.
Dì Tư nhìn cây kẹp, rồi nhìn tôi.
"Hồi sáng chưa có đâu," dì nói. "Dì ra thắp nhang hồi sáng, chưa có cái gì hết."