Chương 1: Mùa gió Lào
Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem
Làng tôi tên là Kẻ Dừa, một làng nhỏ nằm dưới chân dãy núi thấp thuộc xã Hương Thủy, huyện Hương Khê. Làng không có dừa. Người già nói ngày xưa có một hàng dừa ven bàu, chết từ thời Pháp, cái tên thì ở lại. Làng có một con đường đất đỏ, một cái đình mái ngói âm dương, và một cái giếng đá ong đầu làng mà nhà nào cũng gánh nước về ăn.
Nhà tôi ở sát giếng nhất. Từ cửa sổ buồng tôi nhìn ra, qua hàng rào dâm bụt, là thấy cái giá tre treo ròng rọc gỗ, cái gàu tôn méo một bên và sợi dây thừng đã sờn. Từ nhỏ tôi quen ngủ với tiếng ròng rọc. Người làng gánh nước từ lúc gà gáy, tiếng ròng rọc kẽo kẹt, tiếng gàu đập vào thành giếng, tiếng nước đổ ào vào thùng. Nghe tiếng ấy là biết trời sắp sáng.
Mùa hè năm 1998 tôi mười tám tuổi. Đầu tháng Bảy tôi thi đại học ở Vinh xong, về nhà chờ giấy báo. Bọ tôi đi làm thợ mộc bên Lào từ ba năm trước, mỗi năm về một lần vào dịp Tết. Ở nhà chỉ có mạ tôi, bà nội tôi và tôi.
* * *
Năm ấy gió Lào thổi từ cuối tháng Tư, không ngừng một ngày nào. Gió nóng như hơi từ miệng lò gạch, thổi rát mặt, thổi khô cả nước mắt. Ruộng nứt thành từng ô to bằng bàn tay. Lúa chiêm chết đứng, vàng úa không ra hạt. Con bàu sau làng cạn dần, trơ lớp bùn đen, rồi bùn cũng khô, cá chết nằm phơi bụng thành một lớp trắng, mùi tanh bay vào tận trong làng.
Cái giếng đá ong là thứ cạn sau cùng.
Hồi tháng Sáu, mỗi lần kéo gàu chỉ được nửa gàu nước đục. Rồi phải xếp hàng, mỗi nhà một gánh. Rồi đến một buổi sáng cuối tháng Sáu âm lịch, ông Cửu Đạm, người giữ đình, thả gàu xuống và nghe tiếng "cộp" khô khốc của tôn chạm đất.
Tôi nghe tiếng ấy từ trong buồng. Nó không giống bất cứ tiếng gàu nào tôi từng nghe. Không có tiếng nước. Chỉ có tiếng kim loại rơi lên một thứ gì cứng, rồi im.
Từ hôm đó người làng phải đi gánh nước ở khe suối dưới chân núi, đi về mất hơn một giờ. Mạ tôi gánh mỗi sáng một gánh, nước vo gạo để dành rửa rau, rửa rau xong để tưới ớt. Không ai tắm. Tối đến tôi lấy cái khăn nhúng vào một chậu nước nhỏ, lau mặt, lau cổ, rồi lau tay.
* * *
Đêm thứ ba sau khi giếng cạn, tôi tỉnh dậy vì tiếng ròng rọc.
Kẽo kẹt. Chậm và đều. Đúng cái tiếng tôi đã nghe suốt mười tám năm, tiếng của một người đang thả gàu xuống giếng.
Tôi nằm im, nghĩ chắc ai đó chưa biết giếng cạn, hoặc biết rồi mà vẫn thử. Nhưng tiếng ròng rọc không giống người ta thử. Người thử thì thả nhanh, nghe tiếng gàu chạm đáy là kéo lên ngay. Tiếng này thả rất lâu, lâu như giếng sâu gấp mấy lần. Rồi dừng. Rồi lại kẽo kẹt, lần này là tiếng kéo lên, cũng chậm, nặng nề như gàu đầy nước.
Tôi nhìn cái đồng hồ con gà treo trên vách, kim chỉ gần ba giờ. Ngoài bờ rào, đám dế kêu ran từ chập tối đã im bặt từ lúc nào.
Tôi ngồi dậy, ghé mắt qua song cửa sổ. Trăng non đã lặn. Ngoài kia tối đặc, chỉ có cái giá tre in lên nền trời xám. Tôi không thấy ai đứng bên giếng. Tiếng ròng rọc vẫn kẽo kẹt, rồi tắt.
Tôi không dám ra. Tôi kéo chăn trùm kín đầu, nằm đếm nhịp tim cho tới khi gà gáy.
* * *
Sáng hôm sau, lúc tôi ra sân thì đã có mấy người đứng quanh miệng giếng. Ông Cửu Đạm, thím Lài nhà bên, bà Lự góa chồng từ hồi tháng Chạp năm ngoái. Không ai nói gì. Họ đứng cúi đầu nhìn xuống, như người ta đứng nhìn một cái huyệt mới đào.
Tôi chen vào nhìn.
Giếng sâu chín sải. Ánh nắng sớm chiếu xiên, rọi tới được nửa thành giếng, phần dưới tối dần. Nhưng đáy giếng hôm ấy sáng hơn tôi tưởng, vì bùn đã khô thành màu xám bạc, nứt thành từng mảng như mai rùa. Và giữa những mảng nứt ấy có một chiếc dép.
Một chiếc dép cao su, loại cắt từ lốp xe, quai chéo, đã mòn vẹt gót. Chỉ một chiếc, chiếc bên trái. Nó nằm ngay ngắn, mũi dép hướng vào giữa lòng giếng, như ai đó đặt xuống cẩn thận.
Bà Lự thở ra một tiếng nghe như tiếng nấc.
"Dép của ông nhà tôi."
Ông Lự chết vì bệnh phổi hồi tháng Chạp. Tôi nhớ đám ma ông, nhớ người ta đặt đôi dép cao su ông đi mấy chục năm vào trong quan tài, cạnh chân ông. Cả làng biết đôi dép ấy, vì gót bên trái ông khoét một lỗ để khỏi cấn cái mụn cóc dưới chân. Ở đáy giếng, gót dép bên trái có một cái lỗ tròn nhỏ.
Thím Lài kéo tay tôi lùi lại. Ông Cửu Đạm vẫn đứng cúi nhìn, rồi ngẩng lên, nhìn tôi. Ông nhìn lâu hơn mức bình thường một chút. Rồi ông quay đi, chắp tay sau lưng, chậm rãi về phía đình.
* * *
Tôi về kể với bà nội chuyện tiếng ròng rọc đêm qua. Bà đang ngồi têm trầu ở hiên, nghe xong thì bà dừng tay, lá trầu nằm im trên đầu gối.
"Lúc nớ... dế có kêu không?"
Tôi nói không, dế im hết. Bà gật đầu, như thể đó là câu trả lời bà đã biết.
"Giếng cạn đáy là giếng đói. Đêm mai có nghe nữa thì nằm yên. Đừng ra, đừng nhìn, đừng kể với ai."
Tôi hỏi bà, vì răng. Bà không trả lời, cúi xuống quệt vôi vào lá trầu, nhưng tay bà quệt mãi một chỗ, vôi dày lên thành một cục trắng.
Đêm ấy tôi nằm mở mắt, nghe dế. Dế kêu tới khuya rồi tắt một lượt, như có ai bóp nghẹt cả bờ rào. Tiếng ròng rọc lại vang lên, kẽo kẹt, kẽo kẹt, thả xuống rất lâu rồi kéo lên rất nặng. Tôi nằm yên như bà dặn. Nhưng tôi biết, sáng mai đáy giếng sẽ có thêm một thứ.