Chương 2: Chiếc áo không cúc
Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem
Sáng hôm sau, cạnh chiếc dép của ông Lự có thêm một cái điếu cày.
Điếu bằng ống tre đực, quấn dây đồng ở hai đầu, nõ điếu bằng sừng. Ông Tảo ở xóm dưới chết năm 1991, người làng còn nhớ cái điếu ấy vì ông hút ở đâu cũng gõ đầu điếu vào gót chân ba cái rồi mới nhồi thuốc. Con trai ông đứng nhìn xuống giếng một lúc rồi bỏ về, không nói câu nào. Chiều hôm đó tôi thấy anh ta ngồi ngoài mộ cha, cạnh một đống tàn nhang.
Sáng thứ ba là một cái cơi trầu bằng gỗ mít, nắp chạm hình con dơi. Của bà Mơ, chết từ hồi tôi còn học lớp hai.
Ba món đồ nằm cách nhau đều đặn, mỗi món một góc, đều quay vào giữa. Như ba người ngồi quanh một mâm cơm còn trống.
Người làng ra nhìn mỗi sáng mỗi đông hơn, nhưng không ai đòi xuống lấy lên. Tôi hỏi thím Lài sao không ai thả dây xuống nhặt, đồ của người nhà mình mà. Thím nhìn tôi như nhìn đứa con nít hỏi một câu dại dột.
"Đồ người khuất. Người ta đem ra trả... mình mò lên lấy là răng được."
Tôi không hiểu trả cái gì, trả cho ai. Thím Lài cũng không nói thêm. Thím dúi vào tay tôi năm quả trứng gà còn ấm, bảo đem về cho bà nội. Nhà thím mấy tháng nay gà chết vì nắng, còn có hai con mái.
* * *
Chiều hôm ấy ông Cửu Đạm sang nhà tôi.
Ông là người giữ đình đã hơn hai mươi năm, ông đọc được chữ Nho, viết sớ, xem ngày cho cả làng. Người ông gầy như que củi, lưng hơi còng, lúc nào cũng mặc áo the đen đã bạc, đi guốc mộc. Ông ngồi uống nước chè xanh với bà nội ở hiên. Chè pha bằng nước suối, đục, có mùi lá mục.
Tôi đang quét sân thì ông gọi.
"Nhàn. Lại đây ông hỏi."
Tôi đến đứng trước mặt ông. Ông nhìn tôi từ đầu xuống chân, chậm rãi như người đi chợ nhìn một con gà.
"Mi tuổi Thân hè? Tháng mô, ngày mô? Giờ chi?"
Tôi nói tháng Năm âm lịch, ngày hai mươi hai, còn giờ thì phải hỏi mạ. Bà nội đáp thay tôi, giờ Tý, đẻ lúc gà chưa gáy. Bà nói nhanh, như đã thuộc sẵn. Ông Cửu gật đầu, lấy trong túi áo ra một mẩu giấy bản và cây bút chì, ghi lại.
Tôi hỏi ông ghi làm chi. Ông nói làng sắp làm lễ cầu mưa ở giếng, đêm rằm tháng Bảy. Trong sớ phải có tên tuổi một người con gái trẻ trong làng đứng ra dâng lễ, ông đang xem tuổi những đứa con gái mười bảy, mười tám. Ông nói xong thì cười, cái cười móm mém hiền lành.
"Dâng nước thì phải con gái. Con trai nóng, nước hắn không theo."
Bà nội không cười. Bà rót thêm chè vào chén ông, rót đầy quá, nước tràn ra mặt khay.
* * *
Hai hôm sau, bà Cửu, vợ ông giữ đình, mang sang một gói giấy báo buộc lạt.
Trong gói là một chiếc áo cánh trắng bằng vải phin, mới tinh, còn mùi hồ. Bà Cửu bảo tôi mặc thử. Áo hơi rộng, tay dài quá cổ tay. Tôi tìm hàng cúc mà không thấy, chỉ có hai đôi dây vải nhỏ may sẵn ở vạt trước, buộc lại thay cúc.
Bà Cửu đứng sau lưng tôi kéo hai vai áo cho thẳng, vuốt dọc sống lưng tôi, vuốt rất lâu. Tay bà khô và lạnh dù trời nóng như rang.
"Vừa rồi. Đêm rằm mặc cái ni đứng đầu lễ."
Tôi hỏi bà sao áo không có cúc. Bà nói con gái dâng nước thì không được đơm cúc, cúc là cái khóa, nước gặp khóa thì không về. Tôi nghe cũng thấy có lý, kiêng kỵ ở làng tôi nhiều không đếm xuể.
Mạ tôi đứng ở cửa bếp nhìn. Mạ không nói gì. Khi bà Cửu về rồi, mạ cầm chiếc áo gấp lại, gấp rất kỹ, rồi cất vào đáy rương gỗ của mạ chứ không để vào rương tôi.
* * *
Tối hôm đó mạ gội đầu cho tôi.
Nước nhà tôi lúc ấy quý hơn dầu. Mạ gánh hai thùng nước suối, đun một nồi nước bồ kết với lá sả, đổ ra chậu thau, bắt tôi ngồi xuống bậc thềm. Tôi nói để dành nước mà nấu cơm. Mạ không nghe. Mạ gội rất kỹ, gãi từng chân tóc, xả ba lần. Rồi mạ lấy cái khăn mặt lau khô, ngồi chải tóc cho tôi bằng chiếc lược nhựa đỏ.
Chiếc lược ấy mạ mua cho tôi ở chợ Hương Khê, đúng hôm sinh nhật mười tám tuổi, hồi tháng Năm. Lược nhựa đỏ trong, sống lược có in nổi hai con chim én. Tôi quý nó, ngày nào cũng mang theo trong túi áo. Hôm trước tôi lỡ làm gãy một răng, cái răng thứ ba tính từ đầu có in chim én, chỗ gãy nhọn như cái gai.
Mạ chải tóc tôi một lúc lâu, không nói gì. Tóc tôi dài tới thắt lưng. Có lúc tay mạ dừng lại, đặt lên đỉnh đầu tôi, nằm yên ở đó, nặng và ấm. Tôi nghe sau lưng có tiếng mạ hít vào rất sâu.
Tôi quay lại hỏi mạ làm răng rứa. Mạ nói bụi vào mắt. Rồi mạ đứng dậy đi vào nhà, để chiếc lược trên bậc thềm.
* * *
Đêm ấy ngọn đèn dầu vặn nhỏ ở đầu giường tôi tự dưng lụn xuống bằng hạt đỗ, chập chờn mấy cái như có ai thổi. Rồi tiếng ròng rọc lại kẽo kẹt.
Sáng ra, cả nhà tôi ra giếng sớm. Mạ đi trước, quẩy đôi thùng định đi suối. Mạ dừng ở miệng giếng, cúi nhìn xuống như mọi người.
Ở giữa ba món đồ cũ, hơi lệch về phía nhà tôi, có thêm một cái kẹp tóc. Loại kẹp ba lê bằng nhựa màu xanh lá mạ, có đính một bông hoa nhỏ đã tróc sơn. Kiểu kẹp tóc con gái từ những năm tôi chưa sinh ra.
Không ai trong đám đông nhận ra nó. Mấy bà già cúi nhìn, lắc đầu, hỏi nhau của ai.
Đôi thùng của mạ tôi rơi xuống đất. Một chiếc lăn tròn trên nền đá ong, va vào thành giếng, kêu một tiếng rỗng không.